Chủ động các giải pháp đưa Nghị quyết xử lý nợ thuế vào cuộc sống

(TCT online) - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý nợ Tổng cục Thuế Đoàn Xuân Toản cho biết, ngay sau khi Nghị quyết khoanh tiền nợ gốc, xoá tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người không còn khả năng nộp NSNN được Quốc hội thông qua, ngành thuế đã chủ động tổ chức triển khai các giải pháp để đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
 
Xin ông cho biết, việc Nghị quyết khoanh tiền nợ gốc, xoá tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người không còn khả năng nộp NSNN được Quốc hội thông qua có ý nghĩa như thế nào đối với công tác quản lý thuế?
 
Trước hết phải khẳng định, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết về khoanh nợ tiền thuế, xoá nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp NSNN xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khách quan của công tác quản lý thuế. Theo đó, với 2 căn cứ quan trọng là khoanh nợ tiền thuế và xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, Nghị quyết đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan quản lý xử lý, khắc phục triệt để số nợ đọng không còn khả năng nộp NSNN đã  kéo dài, tồn tại qua nhiều năm, từ đó, giảm gánh nặng chi phí, quản lý, giúp cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào việc quản lý thu và đôn đốc các khoản nợ có khả năng thu vào ngân sách; chống thất thu và tăng thu cho ngân sách. Việc xử lý dứt điểm các khoản nợ không còn khả năng thu hồi này cũng góp phần phản ánh đúng thực chất, đúng tình trạng nợ thuế, cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế để xây dựng dự toán thu, chi NSNN, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Thậm chí, xét ở một góc độ nào đó, đây còn là giải pháp không làm phát sinh thủ tục hành chính, do cơ quan thuế chủ động rà soát số liệu và thực hiện các công việc liên quan đến việc khoanh nợ nên không ảnh hưởng đến người nộp thuế. Còn đối với người nộp thuế, việc xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp sẽ hỗ trợ, giải quyết kịp thời khó khăn khi gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, tạo điều kiện phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh; không làm phát sinh thêm số nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, gây áp lực khi đã lâm vào tình trạng giải thể, phá sản, giúp các tổ chức, cá nhân ổn định tâm lý, phục hồi sản xuất kinh doanh và làm tiền đề cho việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN. Đây cũng là cơ sở tạo sự công bằng cho những người nộp thuế mà NSNN chậm thanh toán.
 
Chính vì vậy, cùng với các quy định của Luật Quản lý thuế số 38, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết đã giúp hoàn thiện cơ chế chính sách về xử lý nợ thuế, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để công tác xử lý nợ thuế hiệu quả hơn.
 
 
Ngoài việc xác định đúng đối tượng, vấn đề mà các đại biểu quốc hội và người dân quan tâm đó là Nghị quyết đã có những quy định chặt chẽ như thế nào để phòng ngừa trục lợi và cố tình chây ỳ nợ thuế, thưa ông?
 
Phải hiểu rằng, Nghị quyết là văn bản quy định pháp luật, cơ sở pháp lý cho thực hiện xử lý nợ chứ không phải khi có Nghị quyết là có thể xóa nợ được ngay. Việc xoá nợ phải căn cứ vào từng đối tượng, đáp ứng các điều kiện cụ thể về hồ sơ, thủ tục. Trong đó, điều kiện tiên quyết để được xử lý nợ là người nộp thuế không còn khả năng nộp NSNN. Bảy nhóm đối tượng được khoanh, xoá tại Nghị quyết đã được cơ quan thuế rà soát thận trọng, cân nhắc nhiều khía cạnh. Tất cả các đối tượng này đều thống nhất, đồng bộ với quy định của Luật Quản lý thuế số 38.
 
Tôi cũng muốn nhấn mạnh, từ khi thực hiện xoá nợ theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành, cơ quan thuế các cấp chưa phát hiện trường hợp nào lợi dụng chính sách để chây ỳ, trốn thuế. Bởi các quy định của Luật rất chặt chẽ, chỉ thực hiện xóa tiền nợ thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp đối với DN bị tuyên bố phá sản khi đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt; cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ. Trong khi đó, những quy định của Luật Quản lý thuế số 38 và Nghị quyết này còn chặt chẽ hơn rất nhiều, nên sẽ không có kẽ hở để lợi dụng. Tính chặt chẽ thể hiện ở thẩm quyền xoá nợ, nguyên tắc xử lý nợ phải đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và chịu trách nhiệm của cá nhân người có thẩm quyền. Trường hợp người có thẩm quyền quyết định xóa nợ và người đề xuất xử lý nợ không đúng quy định, thì công chức làm sai sẽ bị xử phạt, thậm chí còn bị xử lý hình sự. Nghị quyết cũng quy định cụ thể thẩm quyền được khoanh nợ, xoá nợ thuế theo từng cấp. Theo đó, việc khoanh nợ giao thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế quyết định. Còn xóa nợ đối với DN và tổ chức, thì Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với trường hợp nợ từ 15 tỷ đồng trở lên; Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định đối với trường hợp nợ từ 10 tỷ đồng đến dưới 15 tỷ đồng; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quyết định đối với trường hợp nợ từ 5 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng; chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định đối với trường hợp nợ dưới 5 tỷ đồng. Riêng đối với cá nhân, hộ kinh doanh, thì chủ tịch UBND tỉnh quyết định xóa nợ.
 
Mặt khác, để có những căn cứ xác định đúng đối tượng, ngoài trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, phải có sự phối hợp chặt chẽ của UBND các cấp, sở, ngành trong việc xác nhận thông tin, tài sản của người nợ thuế; cơ quan công an rà soát đối với người nộp thuế đã chết, mất tích, bỏ đi khỏi nơi cư trú hoặc mất năng lực hành vi dân sự; xác minh, xác nhận thông tin người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, việc xem xét xoá còn có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan, ban ngành liên quan. Hơn nữa, dù đã được xóa, nhưng nếu người nộp thuế quay lại sản xuất kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới vẫn phải nộp đầy đủ các khoản nợ đã xóa. Tất cả những quy định này sẽ đảm bảo chính sách không bị lợi dụng, trục lợi, NSNN sẽ không bị thất thoát.
 
Nghị quyết được kỳ vọng sẽ giải quyết dứt điểm nợ thuế dây dưa kéo dài, không còn khả năng nộp NSNN, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế. Vậy, với vai trò và trách nhiệm của mình, thời gian tới, ngành thuế sẽ phải tập trung vào những vấn đề gì để Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống?
 
Nghị quyết có hiệu thi hành từ 1/7/2020 và chỉ được triển khai thực hiện trong vòng 3 năm kể từ ngày có hiệu lực. Để kịp thời tổ chức triển khai, bảo đảm việc thi hành Nghị quyết khả thi, chặt chẽ, tuân thủ quy định pháp luật, đúng đối tượng, với vai trò và trách nhiệm được giao, Tổng cục Thuế sẽ kịp thời tham mưu trình Bộ Tài chính ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện khoanh nợ, xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp và xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai.
 
Cùng với đó, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo cơ quan thuế các cấp chuẩn bị chu đáo các điều kiện để tổ chức thực hiện. Đó là, rà soát, phân loại nợ theo từng địa bàn, theo từng đối tượng xử lý nợ, đảm bảo chính xác các đối tượng được xử lý nợ; phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan liên quan để kiểm tra và xác nhận, xác minh thông tin người nộp thuế và thông báo công khai trên toàn quốc danh sách người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh còn nợ thuế; đồng thời chuẩn bị đầy đủ các thủ tục, hồ sơ để trình cấp có thẩm quyền xem xét xử lý.
 
Trước mắt, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết đến người dân, DN; tập huấn cho cơ quan thuế, cán bộ thuế để thực hiện thống nhất trong toàn ngành. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý thuế các cấp sẽ cụ thể hóa và xây dựng kế hoạch triển khai tại từng đơn vị, đảm bảo điều kiện tiền đề để nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Xin cảm ơn ông!
Thuý Nga (thực hiện)

Tin mới

Các tin khác