Các nước đều có cơ chế xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng thu hồi

(TCT online) - Đó là thông tin được ông Hidetaka Ota, chuyên gia thuế quốc tế của Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam chia sẻ khi trao đổi với Tạp chí Thuế về nội dung dự thảo nghị quyết về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp NSNN (dự thảo nghị quyết xử lý tiền nợ thuế không còn khả năng nộp NSNN).
 
 
Dự thảo nghị quyết xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng nộp NSNN của Việt Nam có đề xuất 7 trường hợp được xử lý. Với tư cách là chuyên gia hỗ trợ cơ quan thuế Việt Nam, theo ông đề xuất này đã bao quát hết các đối tượng cần xử lý và có phù hợp với thông lệ quốc tế hay không?
 
Là một chuyên gia của JICA hỗ trợ cho ngành thuế Việt Nam, thời gian qua tôi đã có cơ hội làm việc, tư vấn về công tác quản lý thuế và tiếp cận với dự thảo nghị quyết xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng nộp ngân sách của Việt Nam. Tôi cho rằng, 7 trường hợp xử lý tiền thuế nợ theo đề xuất của dự thảo nghị quyết như: “người đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; DN thực tế đã phá sản, giải thể; chấm dứt kinh doanh, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh, bị cơ quan thuế có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; người nộp thuế bị thiệt hại vật chất do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn...” đã bao quát được hầu hết các đối tượng cần thiết. Từ kinh nghiệm trong quá trình công tác, theo tôi, nếu không ban hành nghị quyết xử lý tiền thuế nợ đối với những trường hợp không còn khả năng nộp NSNN, thì Việt Nam sẽ không có cơ chế pháp lý để xử lý dứt điểm tiền thuế nợ đã tồn tại nhiều năm. Nói cách khác, nếu không có hệ thống pháp luật xử lý tiền thuế nợ, các khoản nợ thuế kéo dài từ nhiều năm qua sẽ vẫn tồn tại, gây lãng phí nguồn lực cho cơ quan quản lý, khi hàng ngày vẫn phải theo dõi nhưng không thu được tiền vào NSNN. 
 
Đến nay, tôi không biết chính xác có bao nhiêu quốc gia có hệ thống xử lý tiền thuế nợ đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp, nhưng chắc chắn vấn đề này ở các quốc gia đều có. Tại Nhật Bản, khi ban hành Đạo luật Thuế quốc gia, trong đó đã bao gồm cả các quy định về việc xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng nộp ngân sách.
 
Khi xử lý tiền thuế nợ, cơ quan thuế Nhật Bản sẽ đình chỉ tất cả các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với những người nộp thuế quá hạn, dựa trên Đạo luật Thuế quốc gia và một phần của hệ thống giảm nhẹ nộp thuế, cũng như hệ thống ân hạn nộp thuế. Tuy nhiên, việc người có thẩm quyền xử lý tiền thuế nợ ra quyết định khoanh nợ, hoặc gia hạn nợ phải dựa trên cơ sở nắm rõ được tình hình thực tế của những người nộp thuế. Khi người nộp thuế không còn khả năng nộp, mà cơ quan thuế không thể thực hiện các biện pháp khoanh nợ, gia hạn nợ, thì sẽ tạo ra gánh nặng trong công tác quản lý, cũng như lãng phí nguồn lực của cơ quan thuế. Điều đó, ít nhiều sẽ ảnh hưởng tới công tác quản lý thuế. Vì thế, việc ra quyết định khoanh nợ, gia hạn nợ cần phải được thực hiện sớm. Tuy nhiên, cơ quan thuế cũng phải rất nỗ lực trong việc thu thuế để đảm bảo công bằng với người nộp thuế.
 
Như ông vừa nói là Nhật Bản có chính sách xử lý tiền thuế nợ đối với những khoản nợ không còn khả năng thu hồi. Vậy những DN, người nộp thuế nào nằm trong đối tượng được Chính phủ Nhật Bản xem xét xử lý nợ thuế?
 
Như tôi đã đề cập, Nhật Bản đã có hệ thống các cơ chế chính sách để thực hiện khoanh nợ, gia hạn nợ và xoá nợ đối với các khoản nợ thuế không còn khả năng thu hồi. Cụ thể, cơ quan thuế có thể thực hiện khoanh nợ, gia hạn nợ khi người nộp thuế không còn khả năng nộp, nếu đáp ứng các điều kiện được quy định trong Đạo luật Thuế quốc gia. Còn nếu chứng minh được rằng, đối tượng nào đó không thể thu được nữa, thì nghĩa vụ nộp thuế sẽ được xoá ngay lập tức. Điều kiện để được xử lý xóa nợ bao gồm: khi người nộp thuế quá hạn không có tài sản để thực hiện các biện pháp cưỡng chế; khi áp dụng một biện pháp cưỡng chế khiến người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính; khi người nộp thuế và tài sản của họ không thể tìm thấy, các biện pháp thực thi sẽ bị đình chỉ. Do đó, nếu các DN hoặc người nộp thuế đáp ứng điều kiện này, thì người có thẩm quyền có thể ra quyết định khoanh nợ, gia hạn nợ. Sau 3 năm, nghĩa vụ nộp thuế sẽ được xoá nợ.
Ông Hidetaka Ota (bên phải ảnh) là chuyên gia về thuế của Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam. Ông Hidetaka Ota đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực thuế quốc tế.
 
Đối với các DN nợ thuế có nguyên nhân từ thiên tai, hoả hoạn, động đất, sóng thần; phá sản, giải thể; người nộp thuế đã chết, mất tích, việc xoá nợ được thực hiện như thế nào tại Nhật Bản, thưa ông?
 
Nhật Bản có hệ thống ân hạn nộp thuế khi các khoản thanh toán thuế không thể được thực hiện do thiên tai. Trường hợp này, có thể trả dần, trả góp trong vòng một năm, hoặc lâu hơn, nếu người nộp thuế đáp ứng đủ điều kiện. Tuy nhiên, nếu người nộp thuế vẫn không thể thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của pháp luật, thì các biện pháp thực thi sẽ bị đình chỉ hoặc nghĩa vụ nộp thuế sẽ được xoá.
 
Tại Nhật Bản, các biện pháp để thu thuế quá hạn sẽ bị đình chỉ khi người nộp thuế, DN thuộc một trong 3 trường hợp được áp dụng. Tất nhiên, cơ quan quản lý thuế cần phải nắm rõ đầy đủ từng điều kiện của người nộp thuế trên cơ sở điều tra và xác nhận để khoanh nợ, gia hạn nợ, trước khi thực hiện xoá nợ thuế. Do đó, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể, cơ quan thuế có nhiệm vụ quản lý và điều tra các công ty bị phá sản, giải thể, hoặc người nộp thuế mất tích còn tài sản hay không. Đồng thời, xác định chắc chắn rằng, những trường hợp này sẽ không còn khả năng quay lại hoạt động trong tương lai. 
 
Liên quan đến người nộp thuế đã chết, theo Bộ luật Dân sự Nhật Bản, những người thừa kế tài sản, đồng thời cũng phải kế thừa các khoản nợ và phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thay người đã chết.
 
Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về quy trình xử lý nợ thuế tại Nhật Bản? Để đảm bảo tính minh bạch, công khai, những cơ quan nào sẽ tham gia vào quá trình này? Việc phân cấp xử lý nợ được thực hiện như thế nào?
 
Việc gia hạn nợ, khoanh nợ được áp dụng theo tiêu chí của từng cục thuế hay chi cục thuế vùng. Tuy nhiên, quá trình xử lý nợ sẽ phải có sự tham gia của nhiều cơ quan, có cả cơ quan kiểm toán. Theo đó, các cơ quan tham gia vào quá trình này sẽ kiểm tra, giám sát xem việc gia hạn nợ, khoanh nợ có tuân thủ các quy định của luật pháp hay không. Với quan điểm phải đảm bảo công bằng, minh bạch, cơ quan thuế sẽ được yêu cầu kiểm toán khi thực hiện khoanh nợ, gia hạn nợ ít nhất một lần/năm, cho đến khi nghĩa vụ nộp thuế được xoá. Ngoài ra, Hội đồng Kiểm toán - một tổ chức độc lập từ Chính phủ cũng sẽ kiểm tra các trường hợp này hàng năm, nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận và xử lý không phù hợp.
 
Cũng cần phải lưu ý, mặc dù mỗi cơ quan thuế áp dụng biện pháp khoanh nợ hay gia hạn nợ cho từng trường hợp riêng, nhưng đều phải tuân thủ các quy định pháp luật, đảm bảo sự công bằng.
 
Khi nghị quyết được ban hành, theo ông cơ quan thuế Việt Nam sẽ phải lưu ý thêm điều gì trong quá trình xử lý tiền thuế nợ?
 
Tôi cho rằng, người có thẩm quyền ra quyết định thực hiện các biện pháp cưỡng chế để thu tiền nợ thuế cần phải xuất phát từ quan điểm đảm bảo công bằng. Mặt khác, nếu người nộp thuế đáp ứng các điều kiện được quy định trong luật, thì người có thẩm quyền phải ra quyết định gia hạn nợ, hoặc khoanh nợ kịp thời và phù hợp. Tóm lại, khi người có thẩm quyền thực hiện biện pháp khoanh nợ, gia hạn nợ đối với các khoản nợ thuế đã quá hạn, cần phải nắm rõ đầy đủ các điều kiện của người nộp thuế và kết quả điều tra, xác nhận thực tế. Điều này rất quan trọng để đảm bảo công tác xử lý nợ thuế được chính xác, công bằng, minh bạch và quan trọng nhất là đúng quy định. 
 
Xin cảm ơn ông!
Thuý Nga (thực hiện)

Tin mới

Các tin khác