Thay đổi thông tin người quản lý doanh nghiệp không phải báo cáo cơ quan đăng ký kinh doanh

(TCT Online) - Tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khoá XIV, Quốc hội đã thông qua Luật DN có hiệu lực từ ngày 1/1/2021, trong đó có nhiều nội dung đáng chú ý. 

Cụ thể, đã thay đổi thời gian doanh nghiệp phải thông báo tạm ngừng kinh doanh. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp có quyền tạm ngừng kinh doanh nhưng phải thông báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất 15 ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh. 

Nhưng tại luật mới, doanh nghiệp chỉ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất là 3 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo. 

Đặc biệt, Luật đã bãi bỏ thủ tục báo cáo thay đổi thông tin của người quản lý doanh nghiệp. 

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp phải báo cáo cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày có thay đổi thông tin về họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số thẻ căn cước công dân, giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần; thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên; giám đốc hoặc tổng giám đốc. 

Tuy nhiên, quy định này đã được bãi bỏ tại Luật Doanh nghiệp 2020.

Ngoài ra, sửa đổi quy định về phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước khác trong việc cung cấp thông tin thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện. 

Cụ thể, bãi bỏ quy định: cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện phải gửi thông tin cho cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và gửi thông tin đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện cho cơ quan thuế, cơ quan thống kê trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận; định kỳ gửi thông tin đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện.

Cùng với đó, bổ sung thêm đối tượng không được phép thành lập doanh nghiệp. Bên cạnh các tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp như tại Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 còn bổ sung đối tượng khác không được thành lập và quản lý doanh nghiệp đối với tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự. 

Như vậy, sẽ có 7 nhóm đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp.

HH 

 

 

 

Gửi bình luận


Mã bảo mật