Chặng đường phát triển của ngành thuế gắn liền với dấu ấn cải cách

(TCT online) - Kể từ thời điểm ngày 10/9/1945, khi Chính phủ ký Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở Thuế quan và thuế gián thu, ngành thuế đã trải qua 75 năm xây dựng và trưởng thành. Trong quãng thời gian ấy, ở bất cứ thời khắc, giai đoạn nào, các thế hệ cán bộ thuế  đều luôn nỗ lực phấn đấu, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, trong đó, có những cá nhân đã để lại dấu ấn sâu sắc. Gặp gỡ họ, Tạp chí Thuế đã ghi lại những chia sẻ đầy tâm huyết về chặng đường đã gắn bó với sự phát triển của ngành. 
 
 
Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Tế: Công tác thuế luôn đáp ứng mọi yêu cầu của đất nước
 
Trải qua các giai đoạn từ 1945-1975 cho đến đổi mới từ 1986-1990, nhiệm vụ của ngành tài chính luôn nặng nề và cấp bách, đòi hỏi phải huy động sức dân và nguồn lực tài chính để đáp ứng các yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Thời kỳ chống Pháp, với khẩu hiệu “thóc không thiếu 1 cân, quân không thiếu 1 người”, nỗ lực của ngành thuế đã giúp đảm bảo cho bộ đội “ăn no đánh thắng”, bảo vệ Tổ quốc. Đến thời kỳ đổi mới, sau giai đoạn ban đầu dựa trên tinh thần tự nguyện, đóng góp của nhân dân đã chuyển sang chính sách thuế theo nghĩa vụ, với các sắc thuế nông nghiệp, công thương nghiệp. Tiếp đó là sự bổ sung một số loại thuế phù hợp với xu thế mới, như thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, bảo vệ môi trường..., nhằm đảm bảo được nhiệm vụ chiến lược chủ yếu là gây dựng nguồn lực tài chính mạnh mẽ để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng XHCN. Trong suốt những năm qua, cán bộ ngành tài chính nói chung, ngành thuế nói riêng đã thực hiện theo lời căn dặn của Bác Hồ, chăm lo rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, chí công vô tư, cần kiệm, liêm chính, phấn đấu giành được nhiều thắng lợi trên mặt trận kinh tế tài chính, đem lại nhiều thắng lợi vẻ vang cho dân tộc.
 
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Trần Xuân Thắng: Nhiều kết quả tích cực ngay từ bước cải cách đầu tiên
 
Trong giai đoạn những năm 1990-2000, cùng với việc đổi mới kinh tế đất nước, ngành thuế đã đổi mới toàn diện mọi mặt công tác. Bắt đầu công cuộc cải cách thuế lần thứ nhất, về thể chế, ngành thuế đã xây dựng và trình Quốc hội ban hành Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch. Sau đó, từ khi thành lập ngành năm 1990, tiếp tục được Chính phủ và Bộ Tài chính giao xây dựng hệ thống văn bản pháp luật thuế thống nhất gồm 9 sắc thuế và các phí, lệ phí khác. Cải cách lớn thứ hai là đổi mới về nghiệp vụ quản lý thuế, từ phương pháp quản lý trực tiếp đến từng DN, sang DN tự tính, khai và nộp thuế. Thứ ba là, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý thuế với dấu ấn là Nghị định 281 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 7/8/1990 thành lập hệ thống thuế nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Ở Trung ương có Tổng cục Thuế; các tỉnh, TP có cục thuế, cấp huyện có chi cục thuế. Đổi mới thứ tư là, tổ chức, bộ máy ngành thuế. Từ chỗ năm 1990 chỉ có 36,5% cán bộ quản lý thuế có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học, thì đến năm 2000 đã có đến 93,5% cán bộ qua đào tạo, trong đó trình độ đại học là chủ yếu. Đặc biệt, giai đoạn này, công tác xây dựng cán bộ thuế bám sát phương châm gói gọn trong 6 chữ “Chuyên nghiệp - công tâm - nhiệt tình”, luôn khắc phục khó khăn để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 
 
Với 4 đổi mới cơ bản, giai đoạn 1990-2000, ngành thuế luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, số thu năm sau cao hơn năm trước và đến năm 2000 thì số thu đã gấp hơn 10 lần năm 1990. Số thu do ngành thuế quản lý đã đảm bảo chi thường xuyên và dần đảm bảo chi đầu tư phát triển đất nước. Những thành công này là do ngành thuế luôn bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Cùng với đó là sự quyết tâm, quyết liệt tìm mọi cách khắc phục, giải quyết mọi vấn đề đặt ra để triển khai bằng được mọi chính sách của ngành thuế. Đặc biệt, ngành thuế đã nhận được chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng trong việc chỉ đạo cải cách công tác thuế và xây dựng chính sách.
 
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Nguyễn Văn Ninh: Cải cách đồng bộ cả chính sách và công tác quản lý thuế
 
Giai đoạn từ năm 2001 đến 2010 là cuộc cải cách đồng bộ giữa chính sách thuế và công tác quản lý thuế. Theo đó, các chính sách thuế trong giai đoạn này được nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo hướng đảm bảo công bằng cho người nộp thuế trong nước, cũng như nhà đầu tư nước ngoài, giữa các thành phần kinh tế; giảm thuế suất để khuyến khích người nộp thuế có thêm điều kiện tích tụ vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh. Cùng với đó là, ban hành một số loại thuế mới, bao quát thêm các nguồn thu cho đất nước. 
 
Công tác quản lý thuế trong giai đoạn này được thực hiện theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai và nộp thuế vào NSNN và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Cơ quan thuế tập trung vào công tác tuyên truyền, đối thoại, tháo gỡ vướng mắc cho người nộp thuế, đồng thời tăng cường thanh kiểm tra, xử lý các vi phạm. Điểm nhấn thứ hai trong quản lý thuế giai đoạn 2001-2010 là Quốc hội ban hành Luật Quản lý thuế, áp dụng thống nhất cho tất cả sắc thuế trong phạm vi cả nước.
 
Bằng những giải pháp cải cách chính sách thuế và quản lý thuế, nên trong giai đoạn 2001-2010, thu ngân sách do ngành thuế quản lý luôn đạt và vượt dự toán, tăng trưởng bình quân hơn 20%, tỷ lệ huy động trên GDP thường xuyên đạt ở mức trên 22%, trong khi Nhà nước đặt ra là 21%, góp phần ổn định nền tài chính quốc gia và kiềm chế lạm phát dưới mức cho phép.
 
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Bùi Văn Nam: Dấu ấn công nghệ thông tin trong cải cách thuế
 
Hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 tập trung vào 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cải cách tài chính, hiện đại hoá nền hành chính. Trong đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế tại các Nghị quyết 19, Nghị quyết 02 của Chính phủ, ngành thuế đã tập trung thực hiện cải cách thủ tục hành chính bằng việc nâng cấp các ứng dụng công nghệ thông tin và cung cấp các dịch vụ điện tử về thuế. Thành tích đậm nét nhất là cải cách thủ tục hành chính về thuế đã giảm giờ nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế. Cụ thể, cơ quan thuế đã nâng cấp các ứng dụng công nghệ thông tin và cung cấp các dịch vụ về thuế điện tử, như khai, nộp, hoàn thuế điện tử. Nỗ lực cải cách của ngành thuế đã được cộng đồng DN và người dân đồng tình ủng hộ, chấp hành một cách nghiêm túc. Theo đó, chỉ số nộp thuế của Việt Nam trong báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới  được ghi nhận đã có những chuyển biến tích cực, đạt và vượt các mục tiêu mà Chính phủ đề ra. Với nền tảng này, ngành thuế sẽ triển khai thành công các mục tiêu trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020.
 
Nguyên Cục trưởng Cục Thuế TP HCM Nguyễn Thị Phương Dung: Cần tư duy đổi mới và tầm nhìn để tạo nguồn thu mới cho NSNN
 
Với tâm thế của người lính và sự nhiệt tình cách mạng, khi được phân công về ngành thuế, bản thân luôn khắc ghi, làm theo câu nói của Bác Hồ: “Thu thuế phải thu được lòng dân”, nên đã mạnh dạn cải cách bộ máy tổ chức và hành thu. Cụ thể là, loại bỏ hình thức “thu góp”, rồi sau đó đề xuất mô hình thu thuế qua kho bạc. Qua cách làm này, công tác thu thuế của quận 10 do tôi làm lãnh đạo đã trở thành điển hình tiên tiến của TP và được áp dụng rộng rãi trên toàn quốc.  
 
Trong vai trò người đứng đầu cơ quan thuế, tôi quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức tốt, nâng cao ý thức phục vụ với phương châm: “Cơ quan thuế là bạn đồng hành với DN”. Đồng thời, tập trung cải tiến quy trình quản lý thuế hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin… mang lại lợi ích thiết thực cho DN, xã hội và cho chính cơ quan thuế. Đơn cử như khi TP HCM áp dụng chương trình sử dụng mã vạch hai chiều trong kê khai và xử lý dữ liệu tờ khai thuế GTGT, số DN bị sai sót phải đi lại nhiều lần đã giảm đáng kể. Hay các ứng dụng kinh nghiệm quốc tế vào quản lý thuế trên địa bàn TP HCM rất hiệu quả (đóng dấu vào hóa đơn thuế GTGT của Trung Quốc; quản lý thuế TNCN của Nhật Bản, Thụy Điển...). Đặc biệt, từ năm 2002, tôi đã chủ trì xây dựng và áp dụng đề án thí điểm cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự khai, tự nộp thuế được Bộ Tài chính đánh giá cao và cho triển khai rộng rãi trên toàn quốc. 
 
Từ những thành quả đạt được, thiết nghĩ, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước đều có những khó khăn thử thách riêng. Vì vậy, các thế hệ cán bộ thuế nói chung và TP HCM nói riêng cần xây dựng cho được bản lĩnh chính trị, thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống theo đúng tuyên ngôn của ngành thuế. Đối với các cấp lãnh đạo Cục Thuế, cần có sự chỉ đạo xuyên suốt, tập trung từ hệ thống Đảng đến chính quyền; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành chức năng và phải luôn bám sát các mục tiêu của ngành thuế để cùng phấn đấu xây dựng tập thể đoàn kết, vững mạnh, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Riêng người đứng đầu đơn vị, cần có tinh thần trách nhiệm cao nhất, luôn có tư duy đổi mới trong từng giai đoạn cụ thể, xây dựng chiến lược cải cách phù hợp và tầm nhìn lâu dài để có thể dự báo được nguồn thu, tạo nguồn thu mới cho NSNN, nhất là trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển trước cuộc cách mạng 4.0, hay là gặp phải những biến động khó lường như dịch bệnh Covid-19 hiện nay. Tôi muốn nói thêm rằng, người lãnh đạo cần có niềm tin vào tập thể, biết chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức cho cấp dưới, tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và phải biết lắng nghe ý kiến đóng góp của cấp dưới để có những quyết định đúng, kịp thời. Đồng thời, thường xuyên xây dựng các phong trào thi đua, tạo tinh thần đoàn kết và hãy luôn đặt mình vào những trường hợp khó khăn nhất để hiểu được tính chất công việc và quản lý phù hợp.          
Nhóm PV (ghi)

Gửi bình luận


Mã bảo mật