Ngành thuế - 30 năm hội nhập quốc tế

(TCT Online) - Trong bề dày lịch sử vẻ vang của ngành tài chính và ngành thuế Việt Nam, giai đoạn từ năm 1990 đến nay, ngành thuế đã có 30 năm không ngừng hội nhập và phát triển. Đó là những chia sẻ của ông Trương Chí Trung, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, nguyên Trưởng phòng thuế xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài và hợp tác quốc tế (Tổng cục Thuế) với phóng viên Tạp chí Thuế về hành trình 30 năm hội nhập quốc tế của ngành thuế Việt Nam. 

Phóng viên: Ngày 7/8/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 218-HĐBT về việc thành lập hệ thống thu nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Ông có thể nói rõ hơn về sự hội nhập quốc tế của ngành thuế từ năm 1990 cho đến khi Việt Nam gia nhập WTO?

Ngay từ khi thành lập hệ thống thu nhà nước gồm Tổng cục Thuế và các cục thuế, chi cục thuế ở địa phương, Bộ Tài chính đã rất quan tâm tới công tác đối ngoại của ngành, nên đã thành lập Phòng thuế xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài và hợp tác quốc tế trực thuộc Tổng cục Thuế, đảm nhiệm nhiệm vụ thuế đối ngoại trong thời kỳ đất nước bước vào công cuộc đổi mới. 

Trong giai đoạn này, Tổng cục Thuế đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ, hợp tác của nhiều tổ chức quốc tế; là đầu mối tiếp nhận những chương trình viện trợ của Chính phủ Thuỵ Điển, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)... Thực hiện chức năng hợp tác quốc tế, Phòng thuế xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài và hợp tác quốc tế đã chủ động tìm kiếm thêm nhiều nguồn tài trợ từ nước ngoài với tổng kinh phí khá lớn để mời các chuyên gia quốc tế đến Việt Nam truyền đạt kiến thức quản lý, đào tạo đội ngũ nhân sự ngành thuế. Đồng thời, tổ chức hàng trăm khoá đào tạo cho cán bộ thuế đi tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tích luỹ bài học thực tiễn từ các nước có nền quản lý thuế tiên tiến. Đây chính nền tảng vững chắc để xây dựng hệ thống thuế chuyên nghiệp, hiện đại hôm nay. Giai đoạn này, Tổng cục Thuế cũng được giao nhiệm vụ đàm phán, mở rộng các hiệp định thuế, từ hiệp định tránh đánh thuế 2 lần đầu tiên năm 1992 giữa Việt Nam với Australia cho đến những năm 1995 đã ký được với 30 đối tác lớn nhất. Điều này cho thấy, ngay từ những năm 1992-1995, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ hợp tác hành chính về thuế với nhiều nước, làm nền tảng cho những bước phát triển hội nhập sau này của ngành thuế nói riêng, ngành tài chính và hợp tác quốc tế nói chung. 

Cùng với đó, thực hiện chức năng xây dựng hệ thống thuế xuất nhập khẩu, Tổng cục Thuế đã tham mưu trình Bộ Tài chính, trình Chính phủ ban hành chính sách thuế xuất nhập khẩu được chuyển đổi từ biểu thuế SEV của các nước xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ với chỉ vài chục danh mục, sang biểu thuế xuất nhập khẩu theo mã HS với của các nước kinh tế thị trường với hơn 10.000 mặt hàng, làm nền tảng cho Việt Nam xây dựng Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) chuẩn bị gia nhập ASEAN. Sau đó, Tổng cục Thuế tiếp tục được giao nhiệm vụ xây dựng phương án cắt giảm thuế quan, chuẩn bị cho Việt Nam tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), cũng như xây dựng các phương án về thuế trong đàm phán gia nhập APEC. Dù là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng ngành thuế đã nỗ lực, quyết liệt thực hiện nhiệm vụ tốt được giao. Đây là cơ sở quan trọng để sau này Việt Nam tiếp tục tham gia những tổ chức, hiệp định thương mại quan trọng như Hiệp định thương mại Việt-Mỹ năm 2000, gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) năm 2006. Đặc biệt, trong giai đoạn này, thực hiện theo cơ cấu chung của ASEAN là mỗi nước có 1 cơ quan AFTA, Chính phủ cho phép thành lập cơ quan AFTA của Việt Nam đặt tại Tổng cục Thuế. Cơ quan này được giao nhiệm vụ đàm phán với các nước ASEAN để cắt giảm thuế quan, việc thực hiện cắt giảm có đúng hay không, tham gia chương trình họp các cơ quan AFTA hàng năm của các nước ASEAN. Khi Bộ Tài chính thành lập Vụ Chính sách thuế và Chính phủ chuyển Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính thì Tổng cục Thuế không thực hiện nhiệm vụ thuế xuất nhập khẩu nữa. 

Đối với mảng đầu tư nước ngoài, Tổng cục Thuế đã xây dựng, tham mưu các cấp có thẩm quyền chính sách thu hút, ưu đãi đầu tư nước ngoài, chính sách thuế đối với hoạt động dầu khí-nền tảng cho sự phát triển ngành dầu khí sau này. 

Phóng viên: Từ những bước khởi đầu vững chắc đó, cùng với dấu mốc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006, ngành thuế đã hội nhập toàn diện, tiến tới chủ động tham gia vào các diễn đàn toàn cầu về thuế, tiếp tục thực hiện tốt những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao. Sự hội nhập toàn diện và chủ động của ngành thuế trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay diễn ra như thế nào, thưa ông?

Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành thuế tiếp tục phát triển hệ thống tránh đánh thuế 2 lần từ 30 lên 80 hiệp định, xây dựng hệ thống thông tư hướng dẫn các hiệp định thuế như Thông tư 95/1997/TT-BTC, Thông tư 133/2004/TT-BTC, Thông tư 205/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước. Đồng thời, bước đầu tiếp cận với phương pháp quản lý thuế, chuyển giá, chuyển lợi nhuận. Cụ thể, xây dựng, tham mưu với Bộ Tài chính ban hành Thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 hướng dẫn việc thực hiện xác định giá thị trường trong các giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết, tương đồng với hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết, là văn bản kế thừa Thông tư 117/2005/TT-BTC và cũng được xem là văn bản pháp lý điều chỉnh một cách chi tiết về biện pháp chống chuyển giá bằng phương pháp định giá chuyển giao. Đặc biệt, trong giai đoạn này, các chính sách thuế đã được điều chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế của WTO, WB, IMF, xoá bỏ phân biệt đối xử giữa DN trong nước và nước ngoài, áp dụng ưu đãi chung cho các DN, xoá bỏ ưu đãi xuất nhập khẩu, sửa đổi các chính sách cạnh tranh không lành mạnh qua công cụ thuế, sẵn sàng vào quá trình hội nhập chung của đất nước.

 

Nếu như giai đoạn từ năm 2006 đến trước năm 2015, ngành thuế đã hội nhập toàn diện, thì từ những năm 2015-2017 cho đến nay, phát huy những kết quả đã đạt được nhờ sự hội nhập toàn diện của giai đoạn trước, ngành thuế đã hội nhập một cách chủ động bằng việc tham gia vào những diễn đàn toàn cầu về thuế như Hội nghị Tổng cục trưởng các nước Châu Á Thái Bình Dương (SGATAR); trở thành thành viên thứ 100 của Diễn đàn hợp tác thực hiện chương trình hành động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS), nhằm cụ thể hoá và triển khai các hành động và khuyến nghị của OECD trong việc chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận; tham gia Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin quản lý thuế năm 2019; đặc biệt đại diện ngành thuế Việt Nam lần đầu tiên được tín nhiệm và được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc bổ nhiệm là 1 trong 25 uỷ viên Ủy ban Chuyên gia về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế, đại diện cho khu vực châu Á Thái Bình Dương. Và hiện nay, ngành thuế đang khẩn trương hoàn tất các thủ tục, quy trình, trình Bộ Tài chính, trình Chính phủ tiến tới ký kết Hiệp định đa phương về tránh đánh thuế 2 lần; ký kết Hiệp định hợp tác hành chính về trao đổi thông tin quản lý thuế. 

Phóng viên: Với sự chủ động toàn diện trong công tác thuế đối ngoại, đồng thời phải đảm bảo tiến kịp với sự phát triển hội nhập chung của hệ thống thuế quốc tế, chắc chắn những thách thức đặt ra cho ngành thuế là không hề nhỏ. Với tầm nhìn và kinh nghiệm của thế hệ đi trước, ông có thông điệp gì nhắn nhủ tới thế hệ cán bộ thuế hôm nay để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ của mình?

Không chỉ tham gia vào các diễn đàn, hiệp định tránh đánh thuế song phương mà hiện nay ngành thuế đã chủ động nghiên cứu, tham mưu trình các cấp có thẩm quyền phê chuẩn để Việt Nam tham gia, ký kết hiệp định đa phương. Như vậy, thách thức trong tương lai khi ngành thuế tiếp tục tham gia sâu rộng vào “sân chơi” quốc tế rất lớn, do đó, trách nhiệm cũng rất nặng nề. Trước nhiệm vụ ấy, ngành thuế cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu với các cấp có thẩm quyền hoàn thiện thể chế để ngành thuế tiếp tục hội nhập sâu rộng. Theo đó, thể chế cần được xây dựng rõ ràng, minh bạch để cả 3 bên gồm đối tượng chịu tác động, cơ quan thực thi và cơ quan giám sát, công luận cùng thực thi thống nhất, chuẩn xác. 

Để đưa thể chế vào cuộc sống, ngành thuế còn cần chú trọng đến công tác đào tạo thế hệ kế cận đảm nhiệm thực hiện nhiệm vụ tham gia hệ thống quản lý thuế ở phạm vi khu vực và thế giới. Đây là những nhiệm vụ quan trọng, nhưng với truyền thống 30 năm xây dựng hệ thống thuế, tôi tin thế hệ cán bộ thuế hôm nay sẽ đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình. 

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Minh Huệ (thực hiện)

Gửi bình luận


Mã bảo mật