SAU 44 NĂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC: Gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình cao vừa là định hướng, vừa là khát vọng

(TCT online) - 44 năm đã qua, kể từ ngày đất nước thống nhất (30/4/1975). Việt Nam đã có bước tiến dài về nhiều mặt, kỳ vọng sẽ vượt qua các thách thức để đạt được tầm cao mới.
 
 
Trong hành trình xây dựng và phát triển đất nước hơn 40 năm qua, Việt Nam đã gặp và vượt qua 3 giai đoạn khó khăn nhất. Đầu tiên là khủng hoảng kinh tế - xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng nổ trong những năm 80 của thế kỷ trước. Thời điểm đó, tốc độ tăng trưởng thấp, có năm còn âm, GDP bình quân đầu người rơi vào nhóm thấp nhất thế giới. Nền kinh tế rơi vào thiếu hụt lớn, phụ thuộc vào thiết bị, vật tư, hàng hóa tiêu dùng từ nước ngoài, lạm phát phi mã với tốc độ tăng ở mức 2-3 chữ số; tỷ lệ thất nghiệp cao, trong đó có năm ở mức 2 chữ số. Bối cảnh đó cộng hưởng với sự sụp đổ chế độ ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ đã làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội lần thứ nhất của Việt Nam kéo dài cho đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Cuộc khủng hoảng thứ hai là khủng hoảng tiền tệ xảy ra vào năm 1997-1998, khi Việt Nam vừa mới gia nhập ASEAN, làm cho tăng trưởng kinh tế chậm lại, nhập siêu lớn, khách quốc tế đến Việt Nam giảm. Thứ ba là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra từ cuối năm 2008, khi Việt Nam vừa mới gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), làm cho tăng trưởng kinh tế bị chậm lại, lạm phát cao lên, tuy Việt Nam không bị cuốn hút ngay lập tức vào vòng xoáy suy thoái, nhưng lại chịu tác động kéo dài hơn so với nhiều nước.
 
Vượt lên trên những khó khăn, hơn 40 năm qua, vị thế Việt Nam có sự chuyển biến về nhiều mặt. Thời gian tăng trưởng GDP liên tục tính từ năm 1981 đến 2018 đã đạt 38 năm, dài thứ hai thế giới, chỉ sau kỷ lục 41 năm do Trung Quốc nắm giữ. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt mức khá (năm 2018 so với năm 1976 cao gấp 11,51 lần, bình quân 1 năm tăng 5,99%, trong đó từ 2015 đến nay đã vượt qua mốc 6%, đặc biệt 2018 đã trở lại mức trên 7% - cao nhất châu Á). GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái  năm 1988 mới đạt 86 USD, nằm trong mấy nước có thu nhập thấp nhất thế giới, thì đến năm 2008 đã vượt qua mốc 1100 USD, đưa Việt Nam ra khỏi nhóm thu nhập thấp để gia nhập nhóm có thu nhập trung bình (thấp); đến năm 2018 đã đạt 2587 USD (nếu tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương đạt 7345  USD). Kết quả này một mặt do tốc độ tăng GDP cao lên, mặt khác do tỷ lệ tăng dân số thấp xuống, mặt khác nữa do tỷ giá VND/USD cơ bản ổn định, lạm phát được kiềm chế theo mục tiêu. Từ 3-4 năm nay, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam liên tục cao lên, góp phần làm cho tỷ lệ xuất khẩu/GDP lần đầu tiên đạt xấp xỉ 100%, theo đó, độ mở của nền kinh tế thuộc top 5 thế giới. Do quy mô và tốc độ tăng của xuất khẩu cao hơn nhập khẩu nên từ hơn 3 năm nay, Việt Nam đã liên tiếp xuất siêu. Cùng lúc, đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tính từ 1988 đến nay đạt trên 410 tỷ USD, thực hiện đạt gần 200 tỷ USD. Lượng vốn hỗ trợ phát triển chính thức từ 1993 đến nay theo cam kết đạt khoảng 95 tỷ USD, thực hiện đạt khoảng 80 tỷ USD. Kiều hối tính từ 1993 đến nay đạt trên 150 tỷ USD, bằng 6,5% GDP. Số khách quốc tế đến Việt Nam tăng nhanh, đến năm 2018 đã đạt gần 15,5 triệu lượt người, thu hút lượng ngoại tệ gần 10,1 tỷ USD. Do lượng ngoại tệ vào Việt Nam tăng, tâm lý găm giữ ngoại tệ của dân cư giảm, nên dự trữ ngoại hối tăng mạnh; từ mấy năm nay đã đạt kỷ lục mới, ngang với ranh giới an toàn tài chính quốc gia theo thông lệ quốc tế (tương đương 3 tháng nhập khẩu). Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở mức thấp, tỷ lệ nghèo đa chiều ở mức dưới 8%. 
 
 
Mặc dù đã đạt được những thành tựu trên nhiều lĩnh vực, song kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức mới, dự kiến là phức tạp và khó lường hơn. Theo đó, mặc dù Mỹ và nhiều nước đã trở lại nới lỏng chính sách tiền tệ, nhưng đã xuất hiện dự báo về khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng chu kỳ (10 năm 1 lần), kéo theo một số hệ lụy về tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu, lạm phát, thất nghiệp, thị trường tài chính cho tất cả các nước, không loại trừ Việt Nam. Ở trong nước, hiệu quả đầu tư, mức năng suất lao động còn thấp, tăng trưởng kinh tế phần lớn dựa vào yếu tố vốn (trong đó có vốn vay với mức trả nợ hàng năm cao); vào đầu tư nước ngoài (chiếm trên 20% lượng vốn đầu tư, 50% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 70% kim ngạch xuất khẩu); vào lực lượng lao động đông đảo, giá rẻ. Chưa kể, tính gia công, lắp ráp của nền kinh tế nói chung, của công nghiệp nói riêng và ngay cả khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn lớn, vừa có thực thu thấp, vừa phụ thuộc vào nhập khẩu. Cạnh đó, tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn DN nhà nước còn chậm; khu vực DN tư nhân còn khiêm tốn, dù được xem là lực lượng chủ chốt của nền kinh tế. Do đó, mục tiêu đến năm 2035 chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình cao vừa là định hướng vừa là khát vọng vươn tới của Việt Nam sau 60 năm đất nước thu về một mối và sau 25 năm chuyển từ nước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình n
 Phương Ngọc Minh

Gửi bình luận


Mã bảo mật