Lấy ý kiến dự thảo thông tư hướng dẫn về thuế tài nguyên

(TCT Online) - Bộ Tài chính vừa ban hành, lấy ý kiến rộng rãi dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên. 

Dự thảo thông tư gồm 12 điều, được quy định trong 5 chương (quy định chung; căn cứ tính thuế tài nguyên; đăng ký, khai thuế, nộp thuế; miễn, giảm thuế tài nguyên; tổ chức thực hiện). Trong đó, có một số nội dung đáng chú ý như làm rõ thêm cách thức UBND cấp tỉnh xác định chi phí ở khâu chế biến đến khâu tiêu thụ được trừ để xác định giá tính thuế tài nguyên và xây dựng giá tính thuế tài nguyên. 

Cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ thông tin về giá bán tài nguyên trên thị trường và khung giá tính thuế tài nguyên đối với các loại tài nguyên có tính chất lý hoá giống nhau của Bộ Tài chính để tổ chức ban hành bảng giá tính thuế tài nguyên áp dụng tại địa phương.

Theo đó, giá tính thuế tài nguyên quy định tại Bảng giá là giá tính thuế đơn vị tài nguyên khai thác và giá tính thuế đơn vị sản phẩm tài nguyên tương ứng với tính chất của tài nguyên, sản phẩm tài nguyên khai thác, chế biến của các doanh nghiệp hoạt động trong địa bàn tỉnh. Việc xác định giá tính thuế đơn vị tài nguyên dựa theo chất lượng, sản lượng, giá bán trên thị trường địa phương của loại tài nguyên khai thác, sản phẩm tài nguyên được phản ánh trên hóa đơn, chứng từ, hợp đồng mua bán của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc giá thị trường tự do và tham khảo giá cả thị trường của địa phương lân cận.

Đối với loại tài nguyên khai thác (không trực tiếp xác định được số lượng, khối lượng thực tế khai thác theo quy định tại khoản 3, Điều 5 Luật Thuế tài nguyên) không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu), giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại đã qua sản xuất, chế biến bình quân trong kỳ tính thuế, trừ chi phí đơn vị bình quân của công đoạn chế biến từ sản phẩm tài nguyên đến khâu tiêu thụ tương ứng theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP và được hướng dẫn cụ thể tại điểm 5.2 dưới đây.

UBND cấp tỉnh giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với cơ quan thuế, cơ quan tài nguyên môi trường và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan ở địa phương xác định giá tính thuế đơn vị tài nguyên. Giá tính thuế đơn vị tài nguyên xác định bằng giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại bình quân, trừ chi phí đơn vị sản phẩm tài nguyên bình quân của công đoạn chế biến từ sản phẩm tài nguyên đến khâu tiêu thụ, nhưng phải phù hợp với Khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hoá giống nhau do Bộ Tài chính ban hành. Trong đó, giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại bình quân; chi phí đơn vị sản phẩm tài nguyên bình quân, được xác định theo tài liệu, số liệu phản ánh trên chứng từ, hóa đơn, sổ sách kế toán của các đơn vị khai thác, sản xuất, chế biến tài nguyên; Việc thu thập số liệu, tài liệu thực hiện theo phương pháp chọn mẫu, đảm bảo đủ độ tin cậy (và có tham khảo số liệu, dữ liệu của các địa phương khác

Việc xác định giá tính thuế tài nguyên đối với sản phẩm chưa có trong Khung giá tính thuế tài nguyên đối với các loại tài nguyên có tính chất lý hoá giống nhau và các loại tài nguyên có biến động giá lớn ngoài khung giá được thực hiện theo quy định tại Thông tư về Khung giá tính thuế tài nguyên đối với các loại tài nguyên có tính chất lý hoá giống nhau của Bộ Tài chính.

Ngoài ra, liên quan đến căn cứ để xác định “chi phí chế biến được trừ khi xác định giá tính thuế”, dự thảo thông tư quy định, đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (bán trong nước hoặc xuất khẩu) thì giá tính thuế tài nguyên là giá bán ra, trừ các khoản chi phí quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP nhưng không thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định. Trong đó, chi phí của công đoạn chế biến từ sản phẩm tài nguyên đến khâu tiêu thụ được trừ khi xác định giá tính thuế tài nguyên được căn cứ hồ sơ cấp Giấy phép khai thác tài nguyên, công nghệ sản xuất, chế biến theo dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và sổ sách, chứng từ kế toán phản ánh chí phí của công đoạn sản xuất, chế biến khoáng sản của đơn vị khai thác, sản xuất chế biến tài nguyên để xác định các chi phí liên quan: Chi phí quản lý sản xuất, chi phí nhân công, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng liên quan trực tiếp đến công đoạn sản xuất, chế biến tài nguyên thành sản phẩm khác, nhưng không bao gồm chi phí ở khâu khai thác, sàng, tuyển, làm giàu hàm lượng.

Theo dự thảo, thông tư có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, thống nhất với hiệu lực thi hành của Luật Quản lý thuế số 38. 

Minh Huệ

 

 

 

Gửi bình luận


Mã bảo mật