Hiện đại hóa giám sát hải quan tạo thuận lợi cho DN xuất nhập khẩu

(TCT online) - Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào phân luồng kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) là phương thức quản lý hiện đại được áp dụng rộng rãi theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO). Tại Việt Nam, phương thức này đang được ngành hải quan và nhiều bộ, ngành đẩy mạnh triển khai áp dụng nhằm tạo thuận lợi cho DN.
 
Đẩy mạnh quản lý theo phương pháp rủi ro 
 
Tổng cục Hải quan cho biết, tính đến hết tháng 10/2018, toàn ngành đã làm thủ tục cho hơn 10,3 triệu tờ khai hàng hóa XNK, trong đó 59,5% tờ khai được phân luồng xanh, 35,42% tờ khai được phân luồng vàng, 5,08% tờ khai được phân luồng đỏ. Toàn ngành hải quan đã phát hiện hơn 19.000 tờ khai có vi phạm, thực hiện xử lý gần 15.000 lượt cá nhân, tổ chức. Có được kết quả này là nhờ đẩy mạnh việc áp dụng quản lý rủi ro, phân luồng kiểm tra hàng hóa đối với các lô hàng XNK, đồng thời chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế đối với hàng hóa XNK.
 
 
 Ngoài ra, để tạo thuận lợi cho cộng đồng DN trong quá trình làm thủ tục, ngành hải quan còn thực hiện soi chiếu trước đối với hàng nhập khẩu. Theo đó, cơ quan hải quan tổ chức thu thập, phân tích thông tin trước thông qua bản lược khai hàng hóa điện tử E-manifest nhằm kịp thời phát hiện các lô hàng có dấu hiệu rủi ro để thực hiện soi chiếu. Bên cạnh đó, cơ quan hải quan cũng đẩy mạnh tự động hóa hoạt động kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai để quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận tờ khai của DN; tiến hành các biện pháp kiểm soát, giám sát hải quan; thu thập, trao đổi thông tin nghiệp vụ để phát hiện các DN, lô hàng vi phạm, kịp thời áp dụng biện pháp dừng hàng tại khu vực giám sát để kiểm tra hoặc khám xét. Song song đó, cơ quan hải quan cũng tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan đối với các lô hàng luồng xanh, qua đó, mỗi năm phát hiện truy thu hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế.
 
Tự động hóa công tác quản lý, giám sát
 
Đại diện Tổng cục Hải quan cho biết, là cơ quan đi đầu trong hội nhập quốc tế, ngành hải quan đã đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ. Một trong những ứng dụng có tính chất đột phá đó chính là triển khai thực hiện hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS do Chính phủ Nhật Bản viện trợ. Thông qua hệ thống VNACCS/VCIS, thời gian thông quan hàng hóa được giảm xuống đáng kể. Đồng thời với hệ thống này, cơ quan hải quan có thể kết nối tự động với Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) để khai thác sử dụng hiệu quả nguồn thông tin e-Manifets; hệ thống VNACCS/VCIS, E-Customs (V5) phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Đối với DN kinh doanh cảng, hệ thống giúp cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về tình trạng cấp phép thông quan từ cơ quan hải quan với từng lô hàng, từng container, để giảm thiểu rủi ro trong thực hiện thủ tục giao, nhận hàng; thống kê, lưu giữ chứng từ giao nhận hàng hóa đảm bảo chính xác, khoa học.
 
Đặc biệt, với vai trò cơ quan thường trực của Ủy ban chỉ đạo quốc gia về NSW và một cửa ASEAN (ASW), Tổng cục Hải quan đã nỗ lực phối hợp với các bộ, ngành liên quan đưa Việt Nam trở thành một trong 4 quốc gia đầu tiên trong khu vực kết nối ASW cùng với Indonesia, Malaysia và Thái Lan vào tháng 9/2015. Tính đến ngày 15/11/2018, đã có 130 thủ tục được đưa lên NSW, với trên 1,66 triệu bộ hồ sơ hành chính đã được xử lý và trên 25.300 DN tham gia. Với ASW, Việt Nam đang tiếp tục triển khai trao đổi chính thức giấy chức nhận xuất xứ mẫu D (C/O form D) với 4 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan; đồng thời, tham gia trao đổi thử nghiệm C/O form D với 3 nước (Brunei, Campuchia, Phillipines). Tính đến ngày 15/11/2018, tổng số C/O Việt Nam nhận từ 4 nước ASEAN là 50.435; tổng số C/O Việt Nam gửi sang các nước là 85.831. 
 
Đại diện Tổng cục Hải quan chia sẻ, để tiếp tục tạo thuận lợi cho DN, trong thời gian tới, hải quan Việt Nam sẽ triển khai kết nối kỹ thuật thử nghiệm trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN với chứng nhận kiểm dịch thực vật (ePhyto), chứng nhận kiểm dịch động vật (e-AH). Toàn ngành sẽ tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT, hướng đến môi trường hải quan điện tử phi giấy tờ, được thực hiện “mọi lúc - mọi nơi - mọi phương tiện”. Bên cạnh đó,  sẽ đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ internet kết nối vạn vật (IoT), phân tích dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi kết nối (Blockchain), qua đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK./.
Trung Kiên