Thực thi Hiệp định RCEP: Gắn hiệu quả với cải thiện tính tự chủ của nền kinh tế

(TCT online) - Ngày 20/1, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã tổ chức hội thảo công bố báo cáo “Thực hiện hiệu quả Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) gắn với cải thiện tính tự chủ của nền kinh tế: Yêu cầu hoàn thiện thể chế thương mại và đầu tư ở Việt Nam”.

Theo đánh giá của CIEM, RCEP được ký kết vào ngày 15/11/2020 được kỳ vọng sớm đi vào thực hiện và cải thiện tiếp cận thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam. Dù vậy, thực tiễn nhập siêu của Việt Nam với khu vực RCEP trong những năm qua và hệ lụy từ gián đoạn chuỗi cung ứng do đại dịch Covid-19 năm 2020 cũng báo hiệu những quan ngại về lợi ích mà Việt Nam có thể thu được từ RCEP, đặc biệt là ở khía cạnh mới hơn, đó là mức độ tự chủ của nền kinh tế.

Trên cơ sở đó, báo cáo của CIEM tiến hành đánh giá hoạt động thương mại và đầu tư của Việt Nam với các đối tác trong khu vực RCEP, bao gồm cả quy mô và chất lượng cũng như xác định những vấn đề thể chế và cơ cấu đối với hoạt động thương mại và đầu tư có thể ảnh hưởng đến khả năng tận dụng cơ hội và xử lý thách thức từ RCEP, từ đó đề xuất các kiến nghị cải cách thể chế trung và dài hạn nhằm nâng cao hiệu quả thực thi RCEP gắn với tăng cường mức độ tự chủ của nền kinh tế Việt Nam.

Khẳng định những nỗ lực không ngừng của Việt Nam khi đạt được việc ký kết RCEP, bà Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng CIEM cho rằng, tham gia vào RCEP, Việt Nam hướng nhiều hơn đến tác động “tạo thương mại” của Hiệp định này, thay vì lo ngại về cạnh tranh chiến lược của Hiệp định này với các sáng kiến khác như TPP/CPTPP. Dù vậy, Việt Nam cũng nhìn nhận một số khác biệt của RCEP so với CPTPP và EVFTA, đặc biệt là tác động ít nổi bật hơn đối với cải cách thể chế.

Theo đánh giá của CIEM, đối với hoạt động thương mại, RCEP có thể mang lại một số cơ hội và cả thách thức. Với việc bao phủ vùng lãnh thổ với 30% dân số toàn cầu, RCEP tạo ra một thị trường lớn và tiềm năng cho xuất khẩu. Ngay cả với nhập khẩu, Việt Nam cũng có thể được hưởng lợi từ việc gia tăng chất lượng hàng nhập khẩu cho tiêu dùng. Cùng với việc gia tăng thương mại hàng trung gian, DN Việt Nam cũng có cơ hội tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị và sản xuất khu vực, từ đó tác động đối với cải cách thể chế cũng hiện hữu, chủ yếu theo hướng tăng cường thêm động lực cho Việt Nam thực hiện các cải cách đã được xác định gắn với các cam kết trong CPTPP và EVFTA.

Theo bà Trần Thị Hồng Minh, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội thu hút FDI từ dự dịch chuyển đầu tư ra khỏi Trung Quốc do tác động của chiến tranh thương mại, công nghệ Mỹ - Trung, cũng như các xu hướng cân nhắc mới trong và sau đại dịch COvid-19. Tuy nhiên, thách thức cũng không nhỏ, bởi việc nhìn nhận và xử lý hiệu quả nhập siêu gắn với đầu tư nước ngoài ở thị trường RCEP là một thách thức lớn, thậm chí trở nên phức tạp hơn. Cùng với đó, việc sàng lọc chất lượng của các dự án FDI là chủ trương đúng, nhưng thực hiện không dễ sau khi RCEP đi vào thực thi. Đặc biệt là việc kiểm soát dòng vốn đầu tư nước ngoài từ RCEP và hệ lụy đối với nền kinh tế vĩ mô vẫn là một vấn đề phức tạp và khó khăn, nhất là trong cân đối giữa thu hút, bảo vệ nhà đầu tư và quyền xây dựng chính sách của Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích những cơ hội và thách thức của RCEP mang lại, CIEM đã đưa ra cách tiếp cận để thực hiện hiệu quả RCEP gắn với bảo đảm mức độ tự chủ của nền kinh tế Việt Nam. Theo đó, CIEM khuyến nghị 5 nhóm giải pháp chính, bao gồm tiếp tục thực hiện cải cách đối với nền kinh tế vi mô nói chung, bao gồm cả chính sách cạnh tranh, môi trường kinh doanh, các thị trường nhân tố sản xuất; đặt chính sách đầu tư ở vị trí trung tâm, gắn sâu xa hơn về tư duy định hướng, khả thi về một số ngành cần ưu tiên phát triển, các ngành cần thúc đẩy tự do cạnh tranh; hoàn thiện chính sách thương mại, nhất quán với chính sách đầu tư, qua đó góp phần xử lý hiệu quả, hài hòa hơn vấn đề nhập siêu và nhập khẩu hàng trung gian. Đồng thời phù hợp với sự tham gia của DN trong nước vào chuỗi giá trị khu vực RCEP.

Ngoài ra, cần xử lý các điểm nghẽn về hạ tầng và nguồn nhân lực, trong đó có sự tham gia của các nhà đầu tư và đối tác nước ngoài ở trình độ phù hợp. Cuối cùng, CIEM khuyến nghị, Việt Nam cần tiếp tục phòng chống hiệu quả đại dịch Covid-19 và phải thực hiện cải cách ngay, thay vì chờ đến khi hết dịch. Mặt khác, CIEM nhấn mạnh rằng, RCEP không phải là FTA duy nhất hay là FTA cuối cùng mà Việt Nam có với các đối tác. Do vậy, việc thực hiện RCEP cũng cần đặt trong một cân nhắc tổng thể và toàn diện hơn về việc tham gia, đóng góp vào chủ nghĩa đa phương trong bối cảnh mới.

Tiến Dũng 

Gửi bình luận


Mã bảo mật