Quản lý rủi ro cho vay lại vốn vay nước ngoài và bảo lãnh của Chính phủ

(TCT Online)- Tại hội thảo trực tuyến về quản lý rủi ro cho vay lại vốn vay nước ngoài và bảo lãnh của Chính phủ tổ chức ngày 19/11, Bộ Tài chính cho biết, trong bối cảnh các nhà tài trợ chuyển dần từ việc cung cấp ODA sang các khoản vay với chi phí huy động vốn tăng, thì việc tăng cường quản lý rủi ro cho vay lại vốn vay nước ngoài và bảo lãnh của Chính phủ là ưu tiên hàng đầu.

 

 

 

Hội thảo quản lý rủi ro cho vay lại vốn vay nước ngoài và bảo lãnh của Chính phủ lần này có sự tham gia của 4 nhóm cơ quan đơn vị là Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), các cơ quan quản lý Việt Nam, các ngân hàng-trung gian cho vay lại, và các DN được Chính phủ cho vay lại và được cấp bảo lãnh.

 

Bộ Tài chính cho biết, Luật Quản lý nợ công năm 2017 được đánh giá là bước cải cách trong công tác quản lý nợ công của Việt Nam khi đã đề cao tính công khai, minh bạch, kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, cũng như trách nhiệm của người sử dụng vốn theo thông lệ quốc tế. Luật Quản lý nợ công 2017 đã có riêng một chương về bảo đảm khả năng trả nợ. Theo đó, luật đã đưa ra các công cụ phòng ngừa, xử lý rủi ro, yêu cầu bắt buộc trích lập dự phòng rủi ro, xác định thẩm quyền xử lý rủi ro. Cụ thể như quy định  năng lực tài chính đối với các đối tượng được bảo lãnh là phải có thời gian hoạt động ít nhất 3 năm, tính dến thời điểm đề nghị cấp bảo lãnh chính phủ; không bị lỗ trong 3 năm liền kề gần nhất; không có nợ quá hạn tại thời điểm đề nghị cấp bảo lãnh; bảo đảm hệ số nợ/vốn chủ sở hữu không vượt quá 3 lần theo báo cáo kiểm toán gần nhất...

 

Theo ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), kể từ khi Luật Quản lý nợ công năm 2017 được ban hành đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nợ công của Việt Nam về cơ bản đã hoàn thiện. Nhờ đó, công tác quản lý nợ công được chú trọng và đạt nhiều kết quả. Đặc biệt, với việc kiên định theo đuổi mục tiêu củng cố tài khóa, quản lý chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách từ hoạt động cấp bảo lãnh Chính phủ và vay nước ngoài về cho vay lại, các chỉ tiêu an toàn nợ công đều nằm trong giới hạn cho phép. Mặt khác, nợ công đã giảm dần qua các năm, góp phần bồi đắp dư địa chính sách tài khóa để ứng phó hiệu quả với các cú sốc vĩ mô như thời gian qua. Cụ thể, đến hết năm 2019, danh mục cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ gồm: tổng số dự án sử dụng nguồn vốn vay lại là trên 600 dự án; tổng số dư nợ cho vay lại (không bao gồm cho vay chính quyền địa phương) là 124.338 nghìn tỷ đồng, tương đương 5,4 tỷ USD.

 

Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, Việt Nam phải đối mặt với các rủi ro vĩ mô, như tăng trưởng kinh tế chững lại, mặt bằng lãi suất gia tăng… trong khi đó, các nhà tài trợ nước ngoài đã từng bước điều chỉnh chính sách hợp tác phát triển với Việt Nam theo hướng chuyển dần từ việc cung cấp ODA sang các khoản vay với điều kiện kém ưu đãi hơn, chi phí huy động vốn tăng. Điều này sẽ làm gia tăng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ, đồng thời dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn vay dài hạn, ưu đãi cho đầu tư.

 

Vì vậy, Bộ Tài chính cho rằng, Chính phủ cần huy động các khoản vay mới với điều kiện kém ưu đãi hơn, sát với thị trường để bù đắp thiếu hụt cho cân đối ngân sách, đầu tư công trung hạn. Cạnh đó, yêu cầu đặt ra là cần có cơ cấu nợ hợp lý, cân đối giữa chi phí và rủi ro, giữa nghĩa vụ nợ trực tiếp và nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ phù hợp với yêu cầu phát triển cũng như năng lực quản lý. Đồng nghĩa, việc tăng cường năng lực quản lý nợ, nhất là nắm vững các phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng, ứng dụng mô hình định lượng để tham mưu chính sách liên quan đến cấp và quản lý các khoản cho vay lại và khoản bảo lãnh Chính phủ một cách hiệu quả là ưu tiên hàng đầu.

 

Bài, ảnh: Hương Quỳnh

 

 

Gửi bình luận


Mã bảo mật