Rủi ro bất ổn tài chính của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước

(TCT online) - Đánh giá này vừa được TS Cấn Văn Lực và nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đưa ra báo cáo "Rủi ro bất ổn tài chính toàn cầu - sức chống chịu của Việt Nam và kiến nghị".

Rủi ro thấp hơn nhiều nước
Theo phân tích của nhón nghiên cứu, nếu như khủng hoảng y tế và kinh tế năm 2020 được đánh giá "cú sốc bất lợi nhất trong hơn 1 thế kỷ", thì nguy cơ bất ổn tài chính toàn cầu cũng được đánh giá là "khác biệt nhất so với các cuộc khủng hoảng tài chính lịch sử, mức độ không chắc chắn cao nhất, phạm vi rộng và khả năng kéo dài". Việt Nam cũng nằm trong vòng xoáy này, nhưng khả năng chống chịu đã khá hơn. 
Lý giải về điều này, các chuyên gia cho rằng, mặc dù rủi ro nợ công và thâm hụt ngân sách tăng nhanh, song các chỉ số này của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước mới nổi và vẫn trong tầm kiểm soát. Theo The Economist (5/2020), Việt Nam xếp thứ 12/66 trong nhóm các nước mới nổi an toàn sau dịch Covid-19 nhờ 4 chỉ số đo lường sức mạnh tài chính đều ở mức mạnh và ổn định: nợ công, nợ nước ngoài, chi phí đi vay và dự trữ ngoại hối; Việt Nam có xu hướng đi ngược "làn sóng nợ" toàn cầu với việc kiểm soát nợ công, nợ chính phủ trong 3 năm 2016-2019, trong đó nợ công/GDP và nợ chính phủ/GDP năm 2019 giảm xuống còn 55% và 49,2%, giảm lần lượt 9 điểm % và 4 điểm % so với năm 2016; thâm hụt NSNN giảm mạnh từ mức 5,52%GDP năm 2016 xuống còn 3,4% GDP năm 2019, tạo dư địa nới lỏng tài khóa năm 2020-2021 để phòng chống dịch và khôi phục nền kinh tế; và khả năng bù đắp thu ngân sách từ các nguồn thu khác mang tính bền vững hơn như thương mại điện tử, thanh toán, giao dịch điện tử, thuế BĐS … là khả quan. 
Nhờ các yếu tố tích cực này cũng như sự nới lỏng tài khóa một cách thận trọng, nhóm nghiên cứu cho rằng, thâm hụt NSNN năm 2020 của Việt nam có thể ở mức 5-5,2%GDP, thấp hơn mức bình quân giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2010 là 5,7%GDP và thấp hơn các thị trường mới nổi (11,4%GDP). Nợ công năm 2020 ước khoảng 56-58%GDP, thấp hơn nhiều so với các thị trường mới nổi châu Á (62,2%) và toàn cầu (98,7%) và còn khá xa so với ngưỡng 65% của Quốc Hội.
Không chỉ có vậy, nguy cơ về sự đảo chiều và giảm sút dòng vốn ngoại của Việt Nam khá thấp. Theo Bloomberg, tổng giá trị vốn đầu tư gián tiếp rút ra từ thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đến 15/10/2020 khoảng 344 triệu USD. Đây là mức thấp nhất so với nhiều thị trường mới nổi châu Á, châu Mỹ La tinh và châu Phi (mức rút ra từ 2-30 tỷ USD). Điều này cho thấy, Việt Nam đang có nhiều lợi thế để thu hút đầu tư so với các nước mới nổi và đang phát triển, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và triển vọng tích cực của nền kinh tế, tài chính. 
Hơn nữa, áp lực giảm giá VND không lớn như nhiều thị trường mới nổi khác. Theo NHNN, đến cuối tháng 8/2020, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt khoảng 92 tỷ USD và ước đạt 100 tỷ USD cuối năm 2020, tương đương khoảng 4 tháng nhập khẩu. Cùng với đó, các biện pháp điều hành tỷ giá ngày càng linh hoạt, hạn chế đô la hóa, tỷ giá và thị trường ngoại tệ đã ổn định trong thời gian dài, đến 15/10/2020, VND chỉ giảm nhẹ 0,02% so với USD trong khi nhiều đồng tiền khu vực và thế giới giảm giá khá mạnh so với USD. Vì thế, tính đến nguy cơ giảm sút của một số nguồn cung ngoại tệ do ảnh hưởng của dịch Covid-19, áp lực giảm giá VND tuy vẫn là vấn đề cần lưu tâm, song cũng không đáng lo ngại. Dự báo, mức giảm giá VND so với USD sẽ không quá 1% cả năm 2020 và khoảng 1-2% năm 2021 và rủi ro sẽ không lớn như những năm 2008, 2011 (mức mất giá gần 10%). 
Ngoài ra, với nền tảng về tài chính, quản trị rủi ro được tăng cường theo Basel II (đến hết năm 2019, đã có 20 NHTM đạt chuẩn Basel II), nên nợ xấu tuy có tăng song vẫn thấp hơn nhiều (nợ xấu nội bảng hiện nay khoảng 1,9%) so với mức rất cao của năm 2012 (17,2%). Điều này cùng những bước tiến về thể chế theo chuẩn quốc tế gần đây sẽ góp phần nâng cao sức chịu đựng của nền kinh tế và hệ thống tài chính Việt Nam. 
Một số kiến nghị
Mặc dù được đánh giá có độ rủi ro tài chính thấp hơn nhiều nước, song các chuyên gia cho rằng, khu vực tài chính có sức chịu đựng trung bình luôn tiềm ẩn nguy cơ chuyển sang trạng thái rủi ro cao hơn, nếu thiếu các biện pháp kịp thời, hiệu quả. Vì vậy, bên cạnh nhiệm vụ hàng đầu là phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả và khôi phục nền kinh tế, Việt Nam cần đảm bảo hiệu quả các gói hỗ trợ, đồng thời đảm bảo an toàn tài khóa và nợ công; thu hút có chọn lọc dòng vốn đầu tư nước ngoài; hoàn thiện thể chế, theo hướng tách biệt thực chất và hiệu quả chức năng sở hữu và quản lý, chức năng tín dụng chính sách và tín dụng thương mại (tiến tới sửa đổi Luật NHNN, Luật các TCTD, Luật Bảo hiểm tiền gửi; hướng dẫn triển khai Luật Chứng khoán sửa đổi 2019, Luật Kinh doanh Bảo hiểm sửa đổi 2019…); tái cấu trúc TTCK toàn diện và đồng bộ, chú trọng cấu phần số hóa; nâng hạng thành công TTCK Việt Nam từ cận biên lên mới nổi; phát triển thị trường trái phiếu DN theo hướng lành mạnh, an toàn, góp phần giảm lệ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng; đồng thời nâng cao năng lực, đa dạng hóa loại hình trung gian và nâng cao năng lực quản lý, giám sát, an toàn và ổn định hệ thống tài chính-tiền tệ. Theo đó, các cơ quan quản lý, giám sát (UBCKNN, Cơ quan Thanh tra-giám sát ngân hàng, Cục Quản lý-giám sát bảo hiểm…) cần độc lập và được trao quyền nhiều hơn; nâng cao vai trò của Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia; xây dựng mô hình quản lý-giám sát rủi ro hệ thống, cơ chế xử lý khủng hoảng tài chính; xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu tài chính – tiền tệ quốc gia theo hướng công khai, minh bạch, cập nhật và kết nối hơn; tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống dịch bệnh, khôi phục kinh tế và kiểm soát rủi ro bất ổn tài chính.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục nâng cao năng lực của khu vực ngân hàng, hướng tới chuẩn mực quốc tế và phát triển bền vững, trong đó cần tập trung tái cấu trúc một cách toàn diện, nhất là các TCTD yếu kém, nâng cao năng lực quản trị-tài chính (nhất là hệ số an toàn vốn) và quản trị rủi ro theo Basel II, đẩy nhanh tháo gỡ vướng mắc xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 của Quốc Hội (cần thiết luật hóa xử lý nợ xấu); từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng chống chịu rủi ro của các TCTD. Thực hiện thành công Quyết định 986/QĐ-TTg (ngày 8/8/2018) về chiến lược ngành ngân hàng đến năm 2025, tầm nhìn 2030; trong đó có lành mạnh hóa hệ thống NHTM và TCTD phi ngân hàng, góp phần tăng khả năng tiếp cận tài chính cho người dân và DN; thúc đẩy "tài chính xanh, ngân hàng xanh" vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, dự án thân thiện với môi trường, giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, dịch bệnh. Phát triển kinh tế số và các mô hình kinh doanh số, nâng cao sức chịu đựng của nền kinh tế và thị trường tài chính trong trung-dài hạn.
Mai Phương

Gửi bình luận


Mã bảo mật