Chuyển đổi bắt đầu từ cải cách thể chế sang kinh tế thị trường hiện đại

(TCT - online) - Đây là một trong những nội dung trọng tâm được đưa ra tại Tọa đàm đối thoại chính sách về thể chế kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam nhằm góp ý cho Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2021 - 2030 do Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp cùng Trường Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức ngày 29/7 tại Hà Nội.

Đề dẫn tọa đàm, TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Kinh tế quốc dân, thành viên Tổ tư vấn Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, thì việc đánh giá nền KTTT là một trong những nội dung rất quan trọng và ý nghĩa. Tuy nhiên, để theo dõi và đánh giá được mức độ phát triển của nền KTTT Việt Nam, rất cần dựa trên một số bộ chỉ số có tính quốc tế để đối chiếu, so sánh, trong đó có thể tham khảo bộ chỉ số “Tự do kinh tế thế giới” (Economic Freedom of the World - EFW) của Canada. Điều này cũng tương tự như việc cải thiện môi trường kinh doanh hiện nay, Chính phủ đã dựa nhiều vào các chỉ số môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới (WB); chỉ số năng lực cạnh tranh (GCI) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF); chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của WIPO. Hơn thế, khi nền kinh tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa tự do kinh tế và tăng trưởng kinh tế ngày càng chặt chẽ hơn. Do đó, khi Việt Nam sắp vượt qua ngưỡng phát triển trung bình thấp, càng cần phải quan tâm đến các chỉ số về tự do kinh tế như là thước đo cho sự phát triển nền KTTT đầy đủ.

Theo TS Tô Trung Thành, Trưởng phòng Quản lý khoa học (Đại học Kinh tế quốc dân) cho biết, EFW cung cấp thước đo toàn diện về tính nhất quán giữa thế chế và chính sách của một quốc gia với tự do KTTT. Trong đó, có 4 nhóm tiêu chí lớn là quy mô chính phủ; hệ thống luật pháp và các quyền sở hữu; sức mạnh đồng nội tệ; tự do thương mại quốc tế. Các dữ liệu được sử dụng để xây dựng các thang chỉ số được lấy từ các nguồn của bên thứ ba như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng Thế giới (WB) - đều là các định chế cung cấp dữ liệu cho một số lượng lớn các quốc gia. Vì thế, khi sử dụng các bộ chỉ số này, hàng loạt các vấn đề liên quan đến hàng rào thuế quan; chi phí tuân thủ quy định xuất nhập khẩu; kiểm soát dịch chuyển vốn và lao động; quy định về thị trường tín dụng, lao động và DN...được đặt ra để Việt Nam tham khảo và hướng tới xem xét điều chỉnh các điều luật cho phù hợp với thực tế.

Đối chiếu các chỉ số EFW với thực tế, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, KTTT hiện đại là nền kinh tế trong đó nhà nước và thị trường thực hiện hợp lý vai trò và chức năng của mình, kết hợp và bổ sung cho nhau, hướng đến một thị trường hoàn hảo. Một số đặc trưng nổi bật của KTTT là có chế độ sở hữu tài sản và quyền sở hữu tài sản rõ ràng; thừa nhận sự đa dạng về tài sản, cả về vật quyền và hiện vật; các chủ thể thị trường phải độc lập về pháp lý, có quyền tự chủ và tự do kinh doanh; tự do quyết định sản xuất và thỏa thuận định giá, trao đổi theo cung cầu thị trường.

Đặc biệt, mỗi một chủ thể thị trường đều phải đối mặt với cạnh tranh công bằng và có trật tự, cạnh tranh trong lựa chọn và trao đổi, mua bán với chủ thể khác. Theo TS Nguyễn Đình Cung, với những nội hàm trên, thể chế KTTT định hướng XHCN của Việt Nam, ngoài các đặc trưng của nền KTTT hiện đại, còn làm nhiều hơn và thực hiện tốt hơn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Đình Cung, trong giai đoạn 2021-2030, cần phải thay đổi nhận thức theo hướng đổi mới chính trị phù hợp với đổi mới kinh tế. Theo đó, phải tiếp tục thực hiện các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi mạnh mẽ nền kinh tế nước ta sang KTTT hiện đại, đầy đủ theo các chuẩn mực đã được quốc tế thừa nhận. Trọng tâm là việc Nhà nước chủ động giảm bớt và thay đổi vai trò, vị trí, chức năng của mình qua đó làm thay đổi quan hệ giữa Nhà nước với thị trường để thị trường các yếu tố sản xuất hoạt động đầy đủ, không sai lệch và trở thành mấu chốt quyết định trong phân bổ nguồn lực xã hội.

Cùng với đó là đổi mới chính trị theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, tiếp tục mở rộng và thực thi dân chủ, thiết lập cơ cấu quản trị quốc gia không xung đột lợi ích, cân bằng giữa quyền lực và giám sát quyền lực; có trách nhiệm giải trình đầy đủ trước lợi ích của nhân dân, quốc gia và dân tộc. Đặc biệt, phải có những đột phá thể chế thông qua những thay đổi đủ lớn, đủ mạnh nhằm tháo bỏ các nút thắt, điểm nghẽn thể chế để tạo ra bước tiến nhảy vọt của quá trình chuyển đổi sang KTTT đầy đủ, hiện đại.

Bài, ảnh: Tiến Dũng 

Gửi bình luận


Mã bảo mật