Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2020

(TCT ponline) - Ngày 14/7, Công ty CP báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) công bố danh sách top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2020. 

Thực trạng và triển vọng tăng trưởng
Theo đánh giá của Vietnam Report, sau năm 2019 được đánh giá là một năm gặt hái được nhiều thành công của ngành ngân hàng với nhiều điểm sáng tích cực khi hệ thống ngân hàng thương mại tiếp tục được cơ cấu, tín dụng tăng 13,5% so với cuối năm 2018, riêng khối 18 ngân hàng niêm yết chiếm 67,4% tổng dư nợ toàn ngành với mức tăng trưởng tín dụng 15,5%, chất lượng tài sản của các ngân hàng cũng được cải thiện, tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 1,89%, thì 6 tháng đầu năm 2020, toàn ngành phải đối mặt với một số khó khăn nhất định, do tác động của đại dịch Covid-19. Trong đó, có thể kể đến là lợi nhuận sụt giảm, nợ xấu tăng lên và thu nhập của người lao động giảm.
Cụ thể, theo khảo sát của Vietnam Report, có tới 96,15% giới chuyên gia cho rằng, một trong những thách thức lớn nhất với ngân hàng hiện nay là xu hướng gia tăng nợ xấu dưới tác động của đại dịch Covid-19, khi thực hiện các biện pháp cơ cấu nợ, giãn nợ và khoanh nợ. Với những khoản vay không đủ điều kiện để tái cơ cấu nợ, buộc các ngân hàng phải chuyển thành nợ xấu theo quy định, kéo theo đó là áp lực thoái thu lãi và trích lập dự phòng, từ đó dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng bị sụt giảm. Bên cạnh đó, nếu sức khỏe của nền kinh tế không sớm được cải thiện, các ngân hàng còn gặp rủi ro mất vốn. Theo tính toán của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trường hợp dịch bệnh được kiểm soát trong quý I, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ đã bán cho VAMC và nợ đã phân loại sẽ ở mức 2,9-3,2% vào cuối quý 2 và 2,6-3% vào cuối năm.
Cùng thách thức trên, xu hướng cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng đang có sự thay đổi lớn, do Hiệp định thương mại EVFTA được thực thi buộc ngân hàng nội phải cạnh tranh với các ngân hàng từ châu Âu, có khả năng tiếp cận thị trường nhanh và mạnh hơn. Thêm vào đó, sự xuất hiện và phát triển của các công ty công nghệ tài chính (fintech) và những gã khổng lồ về công nghệ (big tech) trong cung cấp dịch vụ tài chính cũng đang tạo ra những áp lực khiến các ngân hàng phải thay đổi và hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ ngày càng khó khăn, nếu không nhanh chóng bắt kịp xu hướng công nghệ. Đây là vấn đề rất cần lưu tâm, vì hạ tầng công nghệ và hệ thống thanh toán của các ngân hàng Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu. Kết quả khảo sát của Vietnam Report cũng ghi nhận 4 thách thức lớn đối với ngân hàng khi triển khai ngân hàng số, đó là: tủi ro an ninh mạng (63,64%); thiếu chính sách, quy định pháp luật hỗ trợ (63,64%); có quá nhiều ưu tiên chồng chéo (45,45%); thiếu lao động có kỹ năng.
Ngoài ra, dù Việt Nam đã kiểm soát tốt dịch bệnh nhưng trên thế giới dịch bệnh vẫn đang bùng phát, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh của DN trong nước, điều này dẫn đến cầu tín dụng của DN giảm, cho dù mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khá mạnh so với trước khi có dịch. Theo số liệu từ NHNN, tăng trưởng tín dụng đến 16/6 mới chỉ đạt 2,13%, chưa bằng một nửa so với cùng kỳ năm trước (5,7%). Nợ xấu tăng kết hợp nhu cầu tín dụng giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng... 
Mặc dù vậy, theo Vietnam Report, hoạt động ngân hàng vẫn có những điểm sáng, như: chủ động hỗ trợ người dân và DN chịu tác động của đại dịch Covid-19 thông qua các chương trình giảm lãi và phí với các khoản cho vay hiện tại cũng như cơ cấu lại nợ và giãn hoãn nợ cho khách hàng; đẩy mạnh các dịch vụ về ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển các dịch vụ tiêu dùng khác gắn với thương mại điện tử, theo đó đã cho phép giao dịch tại nhà, đồng thời hướng tới xử lý điện tử và NHNN cũng cho phép xác thực chữ ký điện tử đồng hành với điều kiện phát triển của ngân hàng. Những điều này giúp cho môi trường kinh doanh của Việt Nam được đánh giá ổn định. Thêm vào đó, việc tăng cường đầu tư công nghệ số giúp cho các ngân hàng gia tăng lợi nhuận, do tiết giảm chi phí hoạt động; hay những chính sách mới của NHNN đã bù đắp phần nào các rủi ro tài chính đối với các ngân hàng trong điều kiện hỗ trợ DN theo Thông tư 01 như giảm lãi suất, tái cơ cấu nợ; và đặc biệt là lợi nhuận từ dịch vụ tài chính phi tín dụng được gia tăng.
5 xu hướng "bình thường mới" của ngành ngân hàng
Kết quả khảo sát các ngân hàng của Vietnam Report cho thấy, nhiều ngân hàng đã có sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh với những ưu tiên riêng, song có 5 xu hướng được các ngân hàng lựa chọn cho thời kỳ "bình thường mới". 
Một là, xu hướng chuẩn hóa và mua lại sáp nhập. Theo yêu cầu của Chính phủ trong Quyết định 986 đến năm 2025, các ngân hàng phải đáp ứng chuẩn Basel II, đồng thời một số ngân hàng có thể tiên phong áp dụng Basel III, cũng như những chuẩn mực về kế toán, kiểm toán quốc tế và quản trị thông tin, quản trị DN trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Bên cạnh đó, tác động của Hiệp định thương mại EVFTA tới ngành ngân hàng sẽ tạo động lực thúc đẩy các ngân hàng thương mại Việt Nam nhanh chóng đổi mới, chuẩn hóa nghiệp vụ để nâng cao khả năng cạnh tranh với ngân hàng quốc tế. EVFTA cũng tạo ra cơ hội cho các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng đang thiếu vốn đáp ứng chuẩn Basel II, tạo ra làn sóng M&A mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng. Khi có sự tham gia của các đối tác chiến lược EU, các ngân hàng trong nước sẽ được tiếp cận bộ máy quản trị và công nghệ cũng như các sản phẩm tài chính - ngân hàng hiện đại.
Hai là, ngân hàng mở đang nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn cho các ngân hàng trên toàn cầu; hiện có hơn 1 triệu khách hàng sử dụng nó ở Anh. Ngân hàng mở sẽ mở ra cơ hội cho các ngân hàng phát triển dịch vụ mới và gia tăng giá trị bằng cách trao quyền cho khách hàng của họ nhanh chóng hiểu được tình hình tài chính của họ, khám phá các lựa chọn thay thế và đưa ra quyết định tài chính tốt hơn. Điều này không chỉ nâng cao trải nghiệm ngân hàng tiêu dùng, mà còn tăng sự cạnh tranh trên thị trường, do đó, đã khuyến khích sự hợp tác và đổi mới giữa các ngân hàng và fintechs. Điều này đã thúc đẩy một nền kinh tế giàu API giữa các ngân hàng, đang mở rộng hệ sinh thái của họ và cuối cùng là phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính nói chung. Theo nhìn nhận của Vietnam Report, cách tiếp cận kinh doanh dựa trên nền tảng và ngân hàng mở vừa là điểm khác biệt vừa là cơ hội để phục vụ các phân khúc không có giới hạn và không được bảo lãnh. Các thị trường mới nổi ở Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh có tỷ lệ thâm nhập di động cao nhưng dân số đông đảo - tạo cơ hội lớn cho các ngân hàng cung cấp quyền truy cập tài chính thông qua hệ sinh thái đối tác có thể truy cập qua di động.
Ba là, ngân hàng trên đám mây. Để cạnh tranh trong kỷ nguyên mới của dịch vụ tài chính, tất cả các ngân hàng cần đảm bảo công nghệ của họ phù hợp với chiến lược kinh doanh của họ, đồng thời tiết giảm chi phí, dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về đám mây với bất kỳ loại hình DN nào. Công nghệ đám mây cho phép phát triển nhanh và nhanh, giúp đưa sản phẩm mới ra thị trường nhanh chóng và nắm bắt cơ hội trong thời gian ngắn nhất có thể. Khi tồn tại, ngân hàng đám mây mang lại khả năng mở rộng và độ co giãn cũng như hiệu quả hoạt động và giảm chi phí, mặt bằng và tăng cường tính bảo mật trong lưu trữ và quản lý tài liệu. 
Bốn là, bán chéo sản phẩm tài chính ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh. 
Năm là, tăng cường, liên kết hợp tác giữa ngân hàng với công ty công nghệ tài chính và các tổ chức khác. Đây vừa là một xu thế, nhưng cũng là cơ hội và thách thức đối với hệ thống ngân hàng. Thách thức đối với các ngân hàng là liên kết với các đối tác này như thế nào, thêm vào đó cần phải có bigdata (cơ sở dữ liệu lớn) ở tầm cỡ quốc gia và với mỗi DN và cần được Chính phủ cho phép cơ sở dữ liệu đó được chuẩn hóa, chia sẻ lẫn nhau. Ngoài ra, thách thức an ninh thông tin mạng, an ninh khách hàng, an ninh thông tin tài sản khách hàng.
Tuy nhiên, để hỗ trợ tốt nhất cho ngành ngân hàng trong thời kỳ bình thường mới, các chuyên gia và DN trong khảo sát của Vietnam Report đã chỉ ra 6 nhóm giải pháp chính cần có từ Chính phủ và NHNN. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ phù hợp, linh hoạt với diễn biến thị trường (92,31%); rà soát, xây dựng các quy định áp dụng công nghệ nhằm giảm thiểu giao dịch trực tiếp trong cung ứng, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng (84,62%); triển khai nhanh, đồng bộ và hiệu quả các gói hỗ trợ các DN, cá nhân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 (80,77%); tiếp tục cải thiện hệ thống văn bản pháp lý có liên quan đến ngân hàng thương mại (50%); hỗ trợ việc tái cơ cấu, M&A của ngân hàng (26,92%); tăng hạn mức tín dụng cho các ngân hàng đạt chuẩn mực quản trị rủi ro tốt và tăng trưởng nhanh, ổn định (23,08%).
Minh Đức

 

Gửi bình luận


Mã bảo mật