Cải cách hành chính: chìa khóa thực thi thành công EVFTA

(TCT online) - Đó là khuyến nghị chung được các chuyên gia đưa ra tại Hội nghị đối thoại và lễ ra mắt sách trắng EuroCham 2020 ngày 30/6. Sự kiện do Hiệp hội DN châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) và Hội đồng tư vấn về cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ (HĐTV) phối hợp tổ chức nhằm thảo luận về các kế hoạch cách cải cách thủ tục hành chính, góp phần mở khóa toàn bộ tiềm năng của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), dự kiến sẽ đi vào hiệu lực từ ngày 1/8 tới đây.

Ghi nhận bước tiến cải cách
Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch EuroCham Nicolas Audier đánh giá cao những nỗ lực cải cách của Việt Nam, đồng thời cho biết việc Nghị viện châu Âu và Quốc hội Việt Nam chính thức phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVFTA) đã giúp quan hệ EU và Việt Nam bước sang một chương mới về tăng cường thương mại và đầu tư song phương. Hiệp định này tạo cơ hội cho DN châu Âu đón đầu giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội tiếp theo của Việt Nam, cung cấp cho DN cũng như người tiêu dùng Việt Nam đặc quyền tiếp cận thị trường, hàng hóa và dịch vụ của châu Âu, đồng thời có thể thâm nhập sâu hơn vào thị trường đang phát triển mạnh của Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả này mới chỉ là khởi đầu. Vì thế, ngay từ bây giờ, chúng ta cần đảm bảo việc triển khai suôn sẻ EVFTA để DN và người tiêu dùng ở cả Việt Nam cũng như châu Âu có thể tận dụng mọi cơ hội mà hiệp định này mang lại. Trong đó, thúc đẩy cải cách hành chính, hợp lý hóa các điều kiện kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư và hiện đại hóa khung pháp lý... là những yếu tố hàng đầu.
EuroCham cũng đánh giá cao những thay đổi tích cực trong khung pháp lý môt năm qua của Việt Nam, giúp môi trường kinh doanh tại Việt Nam hiệu quả và hiện đại hơn. Điển hình là Bộ luật Lao động sửa đổi được Quốc hội thông qua vào năm 2019 và sẽ có hiệu lực từ năm 2021, lần đầu tiên cho phép người lao động gia nhập công đoàn độc lập. Bước tiến này rõ ràng là một trong những yếu tố chính giúp thuyết phục Nghị viện châu Âu bỏ phiếu thông qua Hiệp định EVFTA. Đáng khích lệ hơn, Bộ luật Lao động mới phản ánh những cam kết rõ ràng của Việt Nam đối với thương lượng tập thể, chống lao động cưỡng bức và chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Mặc dù vẫn còn nhiều việc phải làm, Bộ luật cho thấy Việt Nam đang thực hiện theo các cam kết về việc phê chuẩn và thực thi các Công ước cốt lõi nổi bật của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).
Bên cạnh đó, việc Quốc hội thông qua Luật Quản lý thuế sửa đổi 2019, có hiệu lực từ tháng 7/2020 cho thấy, Việt Nam đang dần chuyển sang cơ chế thu thuế hiệu quả và giải quyết các thách thức trong chính sách quản lý thuế một cách hài hòa với quy định quốc tế. Luật này dự kiến sẽ đẩy nhanh tốc độ phát triển của hệ thống thuế điện tử, giảm thủ tục hành chính và gánh nặng thuế trong khi vẫn đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của hệ thống quản lý thuế. 
“Chúng tôi đánh giá cao việc Bộ Tài chính, đặc biệt là Tổng Cục Thuế, đang rà soát để sửa đổi toàn diện các quy định hướng dẫn hiện hành nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống quy định pháp luật về thuế” - Chủ tịch Nicolas Audier nhấn mạnh và cho biết, những thay đổi này cũng việc thông qua Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia có hiệu lực từ ngày 1/1/2020, cũng như Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công-Tư (PPP), Luật Bảo vệ môi trường đang được sửa đổi... sẽ tạo ra biến chuyển mới trong cải cách của Việt Nam.
Điểm đến đầu tư hấp dẫn
Theo đánh giá của EuroCham, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định của Việt Nam, cùng lạm phát ở một con số, tiếp tục củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường thương mại và đầu tư của đất nước. Thực tế cho thấy, kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, Việt Nam đã liên tục cải cách quy định pháp luật trong nước để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, từ đó trở thành một thị trường hấp dẫn hơn trong mắt DN nước ngoài và các nhà đầu tư quốc tế. Cụ thể, chi phí kinh doanh thấp, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, tầng lớp trung lưu tăng vọt và môi trường thuận lợi cho kinh doanh đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI). 
Theo EuroCham, hiện Việt Nam có một số lợi thế cạnh tranh bao gồm chi phí sản xuất cạnh tranh, vị trí tốt ở Đông Nam Á, hiệu quả kinh tế mạnh mẽ và tiêu thụ nội địa tăng nhanh. Việt Nam đứng thứ 70 trong số 190 quốc gia trên toàn thế giới trong bảng xếp hạng mức độ dễ dàng kinh doanh của Ngân hàng Thế giới 2020, giảm một bậc so với năm ngoái nhưng vẫn là một sự cải thiện đáng kể so với vị trí 82 vào năm 2016. Ngân hàng Thế giới nhận thấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt trong nhiều lĩnh vực như “cấp tín dụng” và “nộp thuế”, tuy nhiên lại chưa tốt trong “giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán”. Mặc dù có sự giảm nhẹ về xếp hạng, kết quả của Việt Nam thực sự đã cải thiện trong năm 2020 với tổng điểm là 69,8.
Cạnh đó, Việt Nam đã ghi nhận tăng trưởng FDI đáng kể từ khi Chính phủ thực hiện chính sách mở cửa thông qua Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Chỉ trong hơn ba thập kỷ, FDI đã đạt mức 38 tỷ USD vào năm 2019. Kết quả thu hút FDI cao nhất trong vòng 10 năm này cũng thể hiện mức tăng hơn 7% so với năm trước đó. Gần 4.000 dự án mới đã được cấp phép trong năm 2019, cao hơn 25% so với năm 2018. Phần lớn vốn đầu tư (khoảng 65%) được thực hiện trong ngành chế biến và sản xuất. Bất động sản đóng góp thêm 10%, và các lĩnh vực bán buôn & bán lẻ và khoa học & công nghệ cũng nhận được những khoản đầu tư đáng kể. Những đối tác FDI lớn nhất của Việt Nam tiếp tục là các quốc gia trong khu vực. Hàn Quốc là nước có nguồn vốn FDI lớn nhất vào Việt Nam trong năm 2019 với 7,9 tỷ USD. Những nhà đầu tư lớn khác là Hồng Kông (7,8 tỷ USD), Singapore (4,5 tỷ USD)... Trong đó, Hà Nội cùng TP HCM đã thu hút hơn 40% FDI. Các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và Bắc Ninh cũng thu hút đáng kể đầu tư từ nước ngoài. Điều này cho thấy, Chính phủ đã rất nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh, đầu tư trong nước để tăng tính hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến để đầu tư và kinh doanh. 
Và triển vọng tăng trưởng kinh tế
Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, GDP của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ ở mức 6,5% trong vòng hai năm tới. Trong vài thập kỷ tới, Việt Nam được kỳ vọng là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm ước tính là 5% trong giai đoạn 2014 đến 2050. Lợi tức nhân khẩu học của Việt Nam đang thúc đẩy sự tăng trưởng này, theo Deloitte, khoảng 70% dân số Việt Nam đang trong độ tuổi lao động. Trên hết, nhu cầu trong nước cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, và xuất khẩu mạnh nhờ vào dòng vốn FDI vào Việt Nam. Tất cả những yếu tố này dự kiến sẽ đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn thứ 20 trên thế giới và nằm trong danh sách 10 nền kinh tế lớn nhất ở châu Á vào năm 2050. Mức tăng trưởng kinh tế này, kết hợp với địa lý thuận lợi của Việt Nam và lượng dân số trong độ tuổi lao động lớn, trẻ trung và có trình độ học vấn cao, sẽ giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, hơn 60% dân số Việt Nam dưới 35 tuổi  và số người sống ở thành thị dự kiến sẽ tăng từ 33 triệu vào năm 2016 lên 54 triệu - một nửa tổng dân số vào năm 2035. Những thay đổi về nhân khẩu học này sẽ giúp thúc đẩy thị trường lao động Việt Nam trong tương lai.
Ngoài ra, việc thông hai Hiệp định EVFTA và EVIPA sẽ giúp Việt Nam đạt nhiều lợi ích. Theo báo cáo “Tăng cường hội nhập quốc tế và thực thi EVFTA” được lập bởi Ngân hàng Thế giới và tháng 5/2020, Liên minh châu Âu (EU) là một trong những đối tác thương mại quan trọng và ổn định nhất của Việt Nam và EVFTA là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới lớn nhất trong lịch sử xét về lợi ích trực tiếp cho Việt Nam. Tác động của EVFTA lên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lớn hơn gần ba lần so với CPTPP. Việc thực thi đầy đủ thỏa thuận này sẽ giúp Việt Nam tăng thêm 2,4% GDP và có thể đạt thêm 6,8% vào năm 2030. Thực tế là các cam kết theo EVFTA rộng hơn và cao hơn so với các hiệp định thương mại tự do khác của Việt Nam như WTO và ASEAN. Điều này cho thấy Việt Nam sẽ không chỉ được hưởng lợi về các khía cạnh tăng trưởng, thương mại mà còn ở khía cạnh xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam sẽ giảm từ 29% trong năm 2016 xuống còn 12,6% vào năm 2030. Sẽ có thêm 0,8 triệu người thoát nghèo và góp phần thu hẹp chênh lệch thu nhập theo giới tính. Hiệp định này cũng thúc đẩy cải cách trong nước, hiện đại hóa các thể chế và giúp Việt Nam phát triển nhanh hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh và cải tiến.
Minh Đức

Gửi bình luận


Mã bảo mật