EVFTA sẽ là cứu cánh cho DN hậu dịch bệnh.

(TCT-online) Trong bối cảnh dịch Covid-19 gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thì Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) sắp đi vào thực thi sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giúp hồi phục kinh tế Việt Nam. Đây là nhận định của các chuyên gia kinh tế khi bàn về sự kiện này.

Thực tế thời gian qua, DN trong nước vẫn đang loay hoay tiếp cận thị trường châu Âu, do phải cạnh tranh với các nền công nghiệp quy mô lớn hơn trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc. Với giá thành sản xuất thường cao hơn từ 10-20% so với nước bạn, nên thị phần hàng hóa của Việt Nam tại EU còn khiêm tốn hiện mới chỉ đạt khoảng 2%. Trong khi đó, EU là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 thế giới, với kim ngạch hàng năm khoảng 2.338 tỷ USD. Tuy nhiên, khi EVFTA được ký kết, với hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU được hưởng mức thuế 0% theo chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP).
Với những cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ thông qua, xóa bỏ gần 100% biểu thuế nhập khẩu, cơ hội gia tăng xuất khẩu của nước ta là rất lớn, nhất là đối với những mặt hàng dệt may, da giày, nông thủy sản, đồ gỗ...
Nhiều nghiên cứu cho thấy, EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với trước khi có hiệp định. Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng, nhưng với tốc độ thấp hơn xuất khẩu, khoảng 15,28% vào năm 2020; 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030. Về mặt vĩ mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân 2,18 - 3,25% giai đoạn 2019 - 2023; 4,57 - 5,30% giai đoạn 2024 - 2028 và 7,07 - 7,72% giai đoạn 2029 - 2033. Bên cạnh đó, về nhập khẩu, các DN Việt Nam cũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa, nguyên liệu có chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn từ EU.
Cùng với đó, khi EVFTA được thực thi, đồng nghĩa sẽ có chuỗi giá trị mới của Việt Nam được hình thành. Môi trường đầu tư mở hơn và thuận lợi hơn, khi triển vọng xuất khẩu hấp dẫn hơn sẽ thu hút đầu tư FDI từ EU vào Việt Nam nhiều hơn, đặc biệt là các lĩnh vực như dịch vụ, tài chính, ô tô, chế biến chế tạo, công nghệ thông tin, công nghệ cao, nông sản thực phẩm chế biến... Gắn với đó, những yêu cầu đặt ra trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thể chế, chính sách pháp luật sau đường biên giới... cũng sẽ theo hướng minh bạch, thuận lợi và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Đây sẽ là những tiền đề quan trọng đưa Việt Nam tăng tốc phát triển lên một tầm cao mới.
Tuy nhiên, tham gia các FTA thế hệ mới như EVFTA có nghĩa là Việt Nam bước vào sân chơi lớn, chấp nhận đương đầu với các khó khăn, thách thức để cạnh tranh với các nước lớn. Theo đó, để thích ứng được với bối cảnh này, các chuyên gia cho rằng, Chính phủ cần ban hành kế hoạch thực hiện EVFTA ngay sau khi Quốc hội xem xét phê chuẩn, nhằm kịp thời đưa ra các định hướng và lộ trình cho các bộ, ngành và địa phương triển khai thực thi đúng, đầy đủ các cam kết của hiệp định. Kế hoạch thực hiện cần tập trung vào các nhóm giải pháp bao gồm, tuyên truyền, phổ biến thông tin về EVFTA và thị trường của các nước EU; xây dựng pháp luật, thể chế, rà soát pháp luật trong quá trình thực thi hiệp định và báo cáo Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo đúng với lộ trình đã quy định của EVFTA, cũng như xây dựng, hoàn thiện các thiết chế cần thiết để thực thi hiệp định.
Cùng với đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực, Chính phủ cần ưu tiên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cho các ngành hàng, DN, đặc biệt là DNNVV và siêu nhỏ, nông dân. Đồng thời, chuẩn bị những giải pháp ứng phó, hỗ trợ đối với những ngành hàng, mặt hàng chịu tác động lớn, trực tiếp từ việc thực thi hiệp định. Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ lao động, tiêu chuẩn lao động phù hợp với các tiêu chuẩn, cam kết, công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia./.

Thanh Loan

Gửi bình luận


Mã bảo mật