Diễn đàn DN Việt Nam thường niên (VBF 2019): Cần có những cải cách thực chất và đồng đều hơn

(TCT online) - Đó là kiến nghị chung được giới chuyên gia đưa ra tại “Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niêm (VBF) 2019: vai trò và đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp FDI trong phát triển nhanh và bền vững” diễn ra ngày 10/1/2020 tại Hà Nội.

Nhiều nỗ lực trong cải cách...
Phát biểu tại diễn đàn, TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực quan trọng trong việc tạo lập một môi trường kinh doanh ổn định, vững chắc và khuyến khích tinh thần DN. Đó không chỉ là những tuyên ngôn như “Chính phủ hành động, kiến tạo” hay “lấy DN làm đối tượng phục vụ” mà đã trở thành các hành động cụ thể trong các chính sách. Chính phủ cũng đã chỉ đạo sát sao các bộ, ngành và địa phương có những hành động cụ thể để cải thiện điểm số và nâng xếp hạng trong các chỉ số về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo của quốc gia. Tuy nhiên, qua nhiều kết quả điều tra DN mà VCCI tiến hành trong năm 2019 cho thấy, dù môi trường kinh doanh của Việt Nam được đánh giá đã có nhiều chuyển biến tích cực, song sự cải cách này chưa đồng đều giữa các lĩnh vực. Điển hình như trong các nội dung của Nghị quyết 02, thành lập DN và tiếp cận điện năng là hai nội dung được DN ghi nhận có nhiều chuyển biến nhất, nhưng ngược lại vấn đề về phá sản DN, bảo hộ nhà đầu tư và thủ tục xuất nhập khẩu được đánh giá ít chuyển biến. 
Tương tự, theo điều tra DN, tỷ lệ DN đăng ký qua mạng, qua bưu điện hoặc qua trung tâm hành chính công tăng từ 12,5% lên 17,4%, nhưng tỷ lệ DN đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin tốt lại giảm từ 60% xuống còn 36%; hay các thủ tục hành chính thuế đều đã có sự cải thiện mạnh mẽ với thủ tục nộp thuế, tỷ lệ DN khai thuế điện tử lên đến 98,4%. Tuy nhiên, hoạt động thanh kiểm tra thuế chưa cải thiện nhiều, vẫn có 33% DN cho rằng cán bộ suy diễn bất lợi cho DN và 30% DN cho biết tồn tại chi phí không chính thức khi thanh kiểm tra thuế. Ngoài ra, đối với lĩnh vực giấy phép xây dựng và giấy phép liên quan, các DN vẫn phải đi lại để nộp hồ sơ nhiều lần (trung bình 3 lần cho mỗi thủ tục). Các thủ tục về xây dựng và phòng cháy chữa cháy vẫn chưa được thực hiện liên thông. Tỷ lệ DN phải xin xác nhận phòng cháy chữa cháy lên đến 63% và có đến 30% DN cho rằng họ gặp khó khăn khi làm thủ tục. Cạnh đó, tiếp cận vốn vẫn là khó khăn lớn thứ hai đối với các DN, cản trở lớn nhất là điều kiện vay vốn phải có tài sản thế chấp; 39% DN cho biết, tình trạng bồi dưỡng cho cán bộ ngân hàng để vay được vốn là phổ biến. Chi phí tuân thủ pháp luật của DN tuy có cải thiện, nhưng chưa nhiều. Việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận khi tỷ lệ DN xin giấy phép kinh doanh có điều kiện giảm từ 58% xuống 48% và tỷ lệ DN gặp khó khăn xin giấy phép giảm từ 42% xuống 34%. Song, việc cắt giảm danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại Phụ lục IV Luật Đầu tư và các điều kiện kinh doanh nằm ở cấp luật cần tiếp tục được thực hiện. 
Đáng chú ý, dù số lượng thủ tục hành chính kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia tăng nhanh, nhưng hầu hết DN vẫn phải nộp kèm bản giấy; hay hầu hết các bộ ngành, tỉnh thành đều đã có Cổng dịch vụ công trực tuyến cho phép cung cấp nhiều dịch vụ cấp độ 3, cấp độ 4, nhưng chỉ một số ít Cổng đã hoạt động mang lại hiệu quả. Đa số các Cổng có tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến rất thấp, chỉ một vài hồ sơ hoặc không đến 1% trên tổng số hồ sơ tiếp nhận. Có tình trạng một số cơ quan từ chối tiếp nhận hồ sơ giấy để ép DN và người dân phải nộp hồ sơ điện tử. “Sự thiếu ổn định này đã ảnh hưởng trực tiếp liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN” - ông Lộc nhấn mạnh. 
...Nhưng cần có những cải cách thực chất và đồng đều hơn 
Từ những diễn biến trên, ông Lộc rằng, để tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi cho cộng đồng kinh doanh, thì các bộ ngành và địa phương tiếp tục cần có những cải cách thực chất và đồng đều hơn trong thời gian tới. Trong đó, các cơ quan nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh việc đơn giản hoá các thủ tục hậu đăng ký DN như khai báo lao động, đăng ký bảo hiểm xã hội, mua hoá đơn, mở tài khoản ngân hàng, nộp lệ phí môn bài. Biện pháp đơn giản hoá phù hợp nhất vẫn là liên thông hoặc kết hợp các thủ tục hành chính để các DN có thể làm nhiều thủ tục cùng một lúc. Ngoài ra, có thể bãi bỏ một số thủ tục không cần thiết như lệ phí môn bài, con dấu DN. 
Trong lĩnh vực thuế, các biện pháp cải cách cần tập trung vào một số vấn đề như đơn giản hoá quy định về thủ tục mua hoá đơn, tự in hoá đơn hoặc sử dụng hoá đơn điện tử; cải thiện việc thực hiện thủ tục hoàn thuế, xin miễn giảm thuế và xin xác nhận nghĩa vụ thuế; các quy định chính sách thuế cần rõ ràng để tránh xung đột giữa cơ quan thuế và DN khi xác định nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, ngành thuế nên đẩy nhanh việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ người nộp thuế, đặc biệt là dành cho các cá nhân kinh doanh, DN siêu nhỏ. 
Đồng tình với đề xuất này, bà Amanda Rasmussen, Chủ tịch Phòng thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) cho rằng, xây dựng một khung pháp lý công bằng, minh bạch, ổn định và hiệu quả mà trong đó coi trọng sự đổi mới sẽ giúp Việt Nam tiếp tục thu hút, duy trì và phát triển thương mại và đầu tư chất lượng cao. Tuy nhiên, để làm được việc này rất cần có những chính sách thuế ổn định, công bằng phù hợp với tiêu chuẩn toàn cầu để thu hút và duy trì đầu tư. Theo bà Amanda Rasmussen, sự thay đổi trong chính sách thuế, bao gồm việc áp dụng hiệu lực hồi tố, là một trong các quan ngại lớn nhất của các DN thành viên của AmCham. Vì thế, “Chúng tôi kêu gọi sự công nhận các quy định của OECD về chuyển giá, cũng như cho phép thỏa thuận trước về giá giao dịch liên kết để hỗ trợ việc lên kế hoạch kinh doanh. Chúng tôi cũng trông đợi sự cải thiện một cách hiệu quả việc giảm các gánh nặng về tuân thủ, bổ sung việc tuân thủ thời hạn 15 ngày cho các cuộc thanh tra đơn giản” - bà Amanda Rasmussen cho hay và kiến nghị cần cải cách vấn đề này và các chính sách khác ở cấp độ quốc gia để củng cố lòng tin của nhà đầu tư và kích thích thương mại và đầu tư. 
Ông Nobufumi Miura, Chủ tịch hiệp hội DN Nhật Bản tại Việt Nam thì đề xuất tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư một cách toàn diện nhất với 5 nội dung là “Bảo vệ môi trường”, “Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công-tư (PPP)", “Xây dựng Chuỗi giá trị toàn cầu”, “Phát triển nguồn nhân lực” và “Ổn định môi trường pháp lý và các biện pháp khuyến khích đầu tư”. Đây đều là các nội dung có tác động rất lớn đến kết quả của môi trường đầu tư ở Việt Nam. Còn theo ý kiến của Hiệp hội DN châu Âu tại Việt Nam, bất kỳ một thay đổi nào về chính sách thuế cũng sẽ có ảnh hưởng đến các kế hoạch kinh doanh, đầu tư của DN. Do đó, ngoài việc có được chính sách thuế ổn định, rất cần có những cải cách thực chất và đồng đều hơn để thúc đẩy DN phát triển.
Các chuyên gia cũng cho rằng, cơ chế kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh cần được bảo đảm thống nhất giữa văn bản cấp luật và cấp nghị định. Các đạo luật cũng cần đáp ứng các tiêu chuẩn về tính minh bạch, tính khả thi, tính hợp lý của các điều kiện đầu tư kinh doanh, tránh việc quy định chung chung rồi giao Chính phủ quy định chi tiết. Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư cũng cần được chú trọng nghiên cứu để tiếp tục cắt giảm, giúp đảm bảo quyền tự do kinh doanh, giảm số lượng DN phải xin giấy phép con. Cạnh đó, cổng một cửa quốc gia cần được nâng cấp để tăng tốc độ xử lý, tránh lỗi mạng, cần tiến tới việc điện tử hoá toàn bộ thủ tục, không còn phải dùng hồ sơ giấy. Vấn đề tham nhũng vặt khi làm thủ tục hành chính và thanh tra kiểm tra cần tiếp tục được chú trọng giải quyết với các ứng dụng công nghệ thông tin để giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính, thanh kiểm tra công vụ thường xuyên, và gắn chặt trách nhiệm kiểm soát tham nhũng với công tác đánh giá cán bộ. Đồng thời, các cơ quan nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng các cổng dịch vụ công khi làm các thủ tục hành chính. 
Bài, ảnh: Minh Đức
 

Tin mới

Các tin khác