Nhiều thách thức nếu các ngân hàng chậm triển khai áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS 9)

(TCT online) - Đây là nhận định chung được các chuyên gia đưa ra tại chương trình đào tạo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế “IFRS 9: Tiếp cận trong thực tiễn và kinh nghiệm triển khai cho ngân hàng tại Việt Nam” do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức ngày 18/6 tại Hà Nội, với sự tham gia của các chuyên gia đến từ PwC Việt Nam, PwC Malaysia và viện SAS, cùng hơn 120 lãnh đạo và đại diện đến từ các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Theo dự thảo lộ trình do Bộ Tài chính công bố tháng 3/2019, từ sau năm 2025 trở đi,việc áp dụng IFRS là bắt buộc đối với báo cáo tài chính hợp nhất của tất cả các công ty niêm yết, các công ty đại chúng có quy mô lớn chưa niêm yết và các công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước.Các chuyên gia tham dự sự kiện cho rằng,mặc dù còn 6 năm nữa,nhưng mốc 2025 sẽ là một thách thức lớn đối với các ngân hàng Việt Nam,nếu họ không bắt đầu chuẩn bị ngay từ bây giờ. “Đối với chuẩn mực IFRS 9,các tổ chức tài chính cần đầu tư nhiều thời gian và nỗ lực để đánh giá tác động (cả tác động tài chính và tác động vào hoạt động), chuẩn bị khả năng đáp ứng các yêu cầu của chuẩn mực, lập các đề xuất thay đổi với sự bảo trợ của các bên liên quan và thực thi các dự án triển khai. Đây là bài học kinh nghiệm từ quá trình chúng tôi tư vấn triển khai IFRS 9 tại các quốc gia khác” - ông Trần Hồng Kiên, Phó Tổng giám đốc dịch vụ kiểm toán kiêm lãnh đạo mảng dịch vụ IFRS tại PwC Việt Nam cho biết.

Lý do chủ yếu là,IFRS 9 sẽ có tác động sâu hơn và rộng hơn lên các ngân hàng trên nhiều khía cạnh, từ lợi nhuận đến quy trình quản lý rủi ro và hệ thống công nghệ thông tin”-ông Kiên nhận định.Đặc biệt, chuẩn mực này thay đổi cách phân loại và đo lường tài sản tài chính,bao gồm các hướng dẫn mới về kế toán phòng ngừa rủi ro. Hơn nữa, mô hình tổn thất tín dụng trong IFRS 9 yêu cầu các ngân hàng phải trích lập dự phòng cho các khoản tổn thất trong tương lai, thay vì chỉ trích lập dự phòng cho các tổn thất đã phát sinh. Sự thay đổi này được cho là có tác động đáng kể nhất đối với các tổ chức tài chính.

Bà Stefanie Tang, Giám đốc dịch vụ tư vấn tài chính PwC Malaysia nhận xét, .các ngân hàng nên lường trước các biến động về chi phí dự phòng, ngay sau khi áp dụng IFRS 9, mức dự phòng có thể sẽ cao hơn. Thực tế, mức độ ảnh hưởng lên các ngân hàng sẽ khác nhau tùy thuộc vào sự kết hợp danh mục của ngân hàng, hồ sơ rủi ro của người vay, mức độ vững chắc của các mô hình tổn thất tín dụng dự kiến...

Nhìn chung, IFRS 9 sẽ đòi hỏi dữ liệu, hệ thống và quy trình bài bản và sự phối hợp chặt chẽ hơn trong nội bộ mỗi tổ chức. Các tổ chức tài chính nên cân nhắc ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu nâng cao và tự động hóa để giải quyết các vấn đề phức tạp của chuẩn mực báo cáo này.        “Tính đến nay, IFRS 9 là một trong những thay đổi phức tạp nhất mà các tổ chức tài chính đã triển khai trong thập kỷ qua. Việc áp dụng IFRS 9 đi liền với những thay đổi về mô hình rủi ro tín dụng, tăng cường quản trị và kiểm soát quy trình kế toán, cũng như phối hợp chặt chẽ hơn giữa chức năng rủi ro và tài chính. Tuy nhiên, giá trị mà IFRS 9 đem lại vượt xa chi phí triển khai, vì tính minh bạch và khả năng phục hồi của các tổ chức tài chính sẽ được cải thiện” - ông Sheldon Goh, lãnh đạo phòng giải pháp quản lý rủi ro tại SAS khu vực ASEAN nhận định.

Ông Nguyễn Thanh Sơn- Giám đốc Trung tâm đào tạocủa VNBA đánh giá, việc triển khai IFRS 9 là cần thiết để các ngân hàng Việt Nam có thể củng cố niềm tin của nhà đầu tư và cạnh tranh trên thị trườngquốc tế. Trên thực tế, ngày càng có nhiều ngân hàng tại Việt Nam đưa IFRS 9 vào chiến lược chuyển đổi của mình. Đối với các ngân hàng chưa làm, đây là lúc để bắt đầu, nếu chậm trễ hơn, họ sẽ khó có thể ứng phó một cách hiệu quả và kịp thời trước những tác động lên báo cáo tài chính, hệ thống, quy trình và các hoạt động kiểm soát mà IFRS 9 tạo ra.

Bài, ảnh: Minh Đức

Gửi bình luận


Mã bảo mật