Đề nghị phối hợp khơi thông vướng mắc trong kiểm tra chuyên ngành

 
(TCT online) - Bộ Tài chính vừa có văn bản kiến nghị các bộ, ngành quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) giải pháp các vướng mắc, khơi thông, đơn giản thủ tục kiểm tra chuyên ngành (KTCN), nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (DN), theo chỉ đạo của Chính phủ.
 
 
DN gặp khó vì chồng chéo KTCN
 
Thực tế, báo cáo khảo sát mức độ hài lòng của DN trong thực hiện thủ tục hành chính XNK do VCCI phối hợp với Tổng cục Hải quan công bố mới đây cho thấy, phần lớn các DN cho biết việc thực hiện những thủ tục quản lý, KTCN ở mức bình thường (60-70%), trong khi đó, tỷ lệ DN đánh giá các thủ tục là dễ thực hiện ở mức khá thấp, xung quanh mức 15-27%.
 
Tình trạng một mặt hàng thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều chính sách quản lý hoặc thuộc diện kiểm tra chất lượng của nhiều bộ, ngành; hay các cơ quan kiểm tra chất lượng thực hiện thủ tục đăng ký và cấp kết quả bằng chứng từ giấy mà chưa tham gia Cơ chế một cửa quốc gia; thời hạn thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng chưa được đầy đủ, cụ thể… là những vấn đề bất cập gây khó khăn cho cơ quan hải quan cũng như DN khi thực hiện.
 
Ngoài ra, còn tình trạng nhiều văn bản pháp quy của bộ, ngành còn khiến DN khó khăn khi  thực hiện.
 
Thực tế, có khá nhiều văn bản quản lý chất lượng hàng hóa khi thực hiện phát sinh vướng mắc. Chẳng hạn khi thực hiện Nghị định 108/2017/NĐ-CP quy định “Tổ chức, cá nhân có phân bón đã được công nhận lưu hành tại Việt Nam được nhập khẩu (NK) hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác NK…”, tuy nhiên, việc quản lý, kiểm tra đối tượng được ủy quyền chưa được quy định cụ thể.
 
Do đó, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành có liên quan ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể hơn về việc ủy quyền NK của tổ chức, cá nhân đã có quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện, trong đó quy định cụ thể về đối tượng được ủy quyền, số lượng hàng hóa được ủy quyền NK… để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý, tránh trường hợp gian lận NK không đúng nội dung được ủy quyền.
 
Hay khi thực hiện Thông tư 21/2017/TT-BCT được sửa đổi tại Thông tư 07/2018/TT-BCT của Bộ Công thương, cơ quan Hải quan cũng gặp vướng mắc trong cách hiểu sản phẩm dệt may có phải KTCN trong NK trước khi đưa ra tiêu thụ trên thị trường Việt Nam không? Hay quy định nộp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong bộ hồ sơ kiểm tra nhà nước về chất lượng thép theo Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BCT-BKHCN gây khó khăn cho DN, vì trường hợp DN NK thép nhưng trong thỏa thuận mua bán không đề nghị phía nước ngoài cung cấp C/O…
 
Bên cạnh đó, một tình trạng chung trong vấn đề kiểm tra nhà nước về chất lượng đó là thời hạn thông báo kết quả kiểm tra chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng trong các văn bản pháp luật về KTCN dẫn đến kéo dài thời gian thông quan cho một lô hàng, làm phát sinh chi phí lưu kho bãi, làm mất đi tính cạnh tranh, thậm chí DN bị phạt đền hợp đồng do giao hàng hóa chậm trễ. Có trường hợp thời gian kiểm tra chất lượng quá 30 ngày (có xác nhận thời gian gia hạn chưa có kết quả) góp phần làm kéo dài thời gian thông quan của cơ quan hải quan, phát sinh chi phí cho DN.
 
Giải pháp cải cách quản lý chuyên ngành
 
Để tháo gỡ và tạo điều kiện cho DN được thông quan hàng hóa nhanh chóng, có nguyên liệu kịp thời đưa vào phục vụ sản xuất cũng như giảm bớt gánh nặng chi phí cho việc kiểm tra chất lượng, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, kiến nghị với các bộ, ngành nhiều nội dung liên quan lĩnh vực kiểm tra nhà nước về chất lượng.
 
Trong đó ưu tiên trọng tâm là áp dụng quản lý rủi ro trong công tác kiểm tra chất lượng, chỉ thực hiện kiểm tra xác suất đối với một số lô hàng bất kỳ, miễn kiểm tra các lô hàng cùng loại, có cùng nhà sản xuất, cùng nhà cung cấp và đã được kiểm tra ở các lô hàng NK trước đó đạt chất lượng; miễn kiểm tra trong vòng một năm đối với DN chấp hành tốt pháp luật hoặc chỉ KTCN đối với những lô hàng rơi vào luồng đỏ để giảm thời gian và gánh nặng chi phí cho DN.
 
Đồng thời, đối với các hàng hóa phải chịu điều chỉnh của nhiều bộ, ngành, mỗi đơn vị lại có rất nhiều văn bản hướng dẫn, do vậy Bộ Khoa học và Công nghệ cần kiến nghị Chính phủ giao cho một bộ chủ trì thực hiện, bộ này sẽ nghiên cứu, thống nhất lại thành một văn bản điều chỉnh chung để DN dễ thực hiện, cơ quan hải quan thuận tiện quản lý.
 
Đáng chú ý, vấn đề rút ngắn tối đa thời gian ra thông báo kết quả kiểm tra chất lượng cần được các bộ chú trọng đưa vào văn bản quản lý. Đặc biệt cần có quy định chế tài đối với các trường hợp cơ quan kiểm tra chất lượng ra thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng chậm trễ so với thời hạn quy định của pháp luật. Ngoài ra, khi có kết quả kiểm tra chất lượng hoặc không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong thời hạn quy định thì cơ quan kiểm tra chất lượng phải thông báo ngay cho cơ quan hải quan biết để theo dõi.
 
Cùng với đó, các bộ, ngành khi ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, NK nhóm 2 thuộc diện quản lý chuyên ngành hoặc thuộc diện kiểm tra nhà nước về chất lượng cần nêu rõ tên hàng, mã HS, hình thức và điều kiện quản lý chuyên ngành cụ thể rõ ràng, thủ tục quy định đơn giản; hạn chế ràng buộc hoặc giới hạn DN phải đăng ký kiểm tra chất lượng một nơi nhất định, mà có thể đăng ký ở nơi DN thấy thuận tiện nhất để giảm chi phí phát sinh nhằm tạo thuận lợi cho DN và cơ quan Hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, NK./.
Theo TBTC online

Gửi bình luận


Mã bảo mật