Quản lý thuế đối với DN lớn: Quan trọng là tập hợp được cơ sở dữ liệu

 
(TCT) - 6 tháng đầu năm, số thu NSNN từ khối doanh nghiệp lớn (DNL) đạt 121.340 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, số nợ thuế cũng tăng với tỷ lệ 40% so với cuối năm 2011. Bài toán khó lúc này là làm thế nào để vừa đảm bảo hoàn thành kế hoạch thu NSNN, vừa giảm được nợ đọng thuế. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Tạp chí Thuế đã phỏng vấn ông Đặng Ngọc Minh - Vụ trưởng Vụ quản lý thuế DNL, Tổng cục Thuế (ảnh dưới).
 
Xin ông cho biết kết quả sau hơn 2 năm Tổng cục Thuế triển khai mô hình quản lý thuế đối với DNL?
Ngay từ khi đi vào hoạt động, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý theo chức trách nhiệm vụ được giao, Vụ Quản lý thuế DNL đã tham mưu đề xuất, xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung các cơ chế quản lý đặc thù đối với DNL. Trong đó, Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn về thuế áp dụng phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực riêng biệt. Điển hình như Thông tư số 155/2011/TT-BTC hướng dẫn nghĩa vụ thuế đối với Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô, Thông tư 47/2011/TT-BTC về kê khai, hoàn thuế GTGT trong ngành điện, Thông tư 35/2011/TT-BTC về kê khai thuế đối với ngành viễn thông, sửa đổi Nghị định số 106/2010/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan quy định nguyên tắc khai thuế, nộp thuế và phân chia thuế GTGT, TNDN, thuế tài nguyên đối với cơ sở sản xuất thủy điện. Thực hiện chức năng hỗ trợ DN, Vụ Quản lý thuế DNL đã tiếp nhận và giải quyết trên 600 hồ sơ vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế, qua đó đã tháo gỡ khó khăn cho các DNL. Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý thuế đã được tập hợp, tổ chức sắp xếp khoa học, liên kết thông tin theo từng tập đoàn, tổng công ty, theo từng nhóm ngành, lĩnh vực kinh tế, làm cơ sở cho phân tích, đánh giá tình hình tài chính, SXKD và thu nộp ngân sách. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa quản lý thuế, Tổng cục Thuế đã có nhiều giải pháp khuyến khích và hỗ trợ các DN kê khai thuế điện tử. Chủ trương này được hầu hết các DNL đồng tình hưởng ứng, nên đến đầu năm 2012 đã có 95% số DNL kê khai trực tuyến. Việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) đã đáp ứng các yêu cầu về xây dựng cơ sở dữ liệu đảm bảo tập trung, liên tục, tự động, chính xác, kịp thời. Mặt khác, Vụ DNL đã nghiên cứu thí điểm việc sử dụng hóa đơn điện tử tại các DN có điều kiện hạ tầng thông tin và khả năng áp dụng như DN viễn thông, hàng không, điện lực, ngân hàng, sau đó tiến tới triển khai áp dụng rộng rãi. Ngoài ra, Vụ Quản lý thuế DNL đã phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế, các Cục Thuế phân tích, đánh giá kết quả, tiến độ nộp ngân sách của các DNL và phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát, chống thất thu thuế đối với một số ngành, lĩnh vực như ngân hàng, than và khoáng sản, xây dựng; tham gia, hỗ trợ hiệu quả việc thực hiện đề án tái cơ cấu DNNN với trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và tái cấu trúc ngân hàng thương mại, 
Trong quá trình quản lý, thanh, kiểm tra đối với các DNL,  những hành vi vi phạm phổ biến nào đã được cơ quan thuế phát hiện?
Quá trình thanh, kiểm tra cho thấy, DNL hay mắc phải một số vi phạm điển hình như kê khai hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế không đúng quy định; hạch toán giá vốn các khoản chi phí vượt định mức tiêu hao do chính DN xây dựng; phân bổ chi phí không theo chế độ kế toán, hạch toán nhiều khoản chi phí không hợp lệ về hồ sơ, chứng từ, hay không hợp lệ về nội dung khoản mục; trích khấu hao tài sản vượt quá quy định, dẫn đến làm giảm thuế TNDN phải nộp. 
Ngày 19/4/2010, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 856/QĐ-BTC quy định danh sách DN do Tổng cục Thuế trực tiếp quản lý thuế (gọi là DNL) với tiêu chí DNL là DN có số tài sản đầu tư, tổng số lao động, thuế phát sinh, doanh thu lớn, địa bàn hoạt động rộng khắp trên toàn quốc và đầu tư ra nước ngoài. Danh sách bao gồm 415 DN là các công ty con trực thuộc và đơn vị liên kết của 35 tổng công ty, tập đoàn kinh tế thuộc tất cả các thành phần kinh tế khác nhau. Trong năm 2009 và 2010, 415 DNL đóng góp khoảng 36% tổng thu NSNN (bao gồm cả số thu từ dầu thô).
Đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài, thường không chấp hành tốt chế độ hạch toán kế toán và lưu giữ chứng từ. Việc xác định giá bán trong nội bộ các công ty có mối quan hệ liên kết có nhiều biểu hiện gian lận, nhằm điều chỉnh kết quả thu nhập của DN không có ưu đãi về thuế sang DN có ưu đãi thuế, điều chỉnh kết quả lãi thành lỗ, mua bán lòng vòng trong nội bộ để giảm nghĩa vụ nộp thuế. Một số thường lợi dụng việc quy định giá bán trong nội bộ DN thường thấp hơn so với các giao dịch độc lập, nhằm giảm doanh thu, chuyển lợi nhuận sang các công ty liên kết được hưởng ưu đãi về thuế hoặc chuyển lợi nhuận sang các công ty liên kết để vay vốn kinh doanh hay chuẩn bị niêm yết trên sàn chứng khoán.
Thực tế, đối tượng DNL thường là các tổng công ty, tập đoàn kinh tế lớn có hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực hoạt động trên phạm vi rộng, cách thức hạch toán phức tạp nên chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn cho cơ quan thuế, thưa ông?
Đúng là thực tế đang có sự bất cập trong tổ chức quản lý thuế đối với các DNL. Bởi đặc thù các DN dạng này thường có địa bàn hoạt động rộng khắp trên toàn quốc, thu nhập, chi phí, giao dịch mua bán phát sinh qua các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc đóng trên nhiều địa bàn, nên cơ quan thuế một tỉnh, thành phố, do bị giới hạn về thẩm quyền quản lý thuế sẽ không thể nắm bắt, kiểm tra, thanh tra được toàn bộ hoạt động liên quan. Về cơ chế, vẫn còn sự khác biệt giữa các địa phương về chính sách ưu đãi thuế theo địa bàn, theo lĩnh vực, nên DN có thể tận dụng chuyển lợi nhuận đến những khu vực được ưu đãi thông qua hạch toán theo giá giao dịch nội bộ. Ngay trong cơ quan thuế, công tác quản lý được phân định theo các chức năng kê khai, kiểm tra, thanh tra, quản lý nợ, dù thuận tiện cho việc tin học hóa quản lý, nhưng vô hình chung lại thiếu vắng bộ phận theo dõi tổng hợp toàn diện và xuyên suốt theo thời gian việc tuân thủ của DNL.
 
Vậy theo ông, quy trình quản lý thuế DNL cần sửa đổi, bổ sung thế nào để vừa tạo điều kiện cho DN thực hiện nghĩa vụ thuế, vừa phù hợp với yêu cầu quản lý của cơ quan thuế trong tình hình mới?
Tôi cho rằng, tới đây cần tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý thuế DNL ở cả cấp Tổng cục Thuế và Cục Thuế theo hướng chuyên môn hóa chức năng quản lý, kết hợp với tổ chức quản lý thuế theo đối tượng, ngành, lĩnh vực kinh tế; tăng cường đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý thuế DNL. Trên phạm vi toàn ngành, cần triển khai mạng lưới các phòng kiểm tra trực thuộc Cục Thuế các địa phương để chỉ đạo, điều phối và phối hợp chặt chẽ với Vụ Quản lý DNL.  
Đặc biệt, việc sửa Luật Quản lý thuế vào cuối năm nay, cần bổ sung quy định quản lý thuế theo đối tượng là DNL, trong đó có các biện pháp quản lý rủi ro. Để thực hiện phương thức này, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thuế đối với DNL dựa trên nền tảng CNTT, hạ tầng kỹ thuật; nâng cao trình độ cán bộ đáp ứng được yêu cầu quản lý các DN đặc thù; đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật của ngành trong việc chỉ đạo và chấp hành thu thập, cập nhật dữ liệu về DNL vào hệ thống cơ sở dữ liệu chung làm cơ sở phân tích, đánh giá việc chấp hành nghĩa vụ thuế.
Ngoài ra, để quản lý thuế đối với các DNL theo hướng chuyên sâu theo ngành, lĩnh vực, cần tiến hành khảo sát đối với một số tập đoàn, tổng công ty để nắm bắt kịp thời các vướng mắc, đồng thời nắm bắt việc thực hiện pháp luật thuế của các DNL, từ đó có biện pháp  rà soát, phát hiện, tham mưu xử lý, hỗ trợ và đôn đốc kịp thời các khoản phải nộp của DNL vào NSNN.
Xin cảm ơn ông!
Cẩm Tú thực hiện

Gửi bình luận


Mã bảo mật