Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 hướng đến một cơ cấu thu ngân sách bền vững

(TCT online) - Kết quả cải cách hệ thống thuế có tác động nhiều mặt đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, trong đó, cơ cấu thu NSNN bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng cần đạt được. Trên cơ sở phân tích kết quả tác động và đánh giá những hạn chế, nguyên nhân của cải cách thuế giai đoạn 2011-2020, bài viết sẽ đề xuất mục tiêu và định hướng của Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 theo hướng đảm bảo cơ cấu thu NSNN bền vững.
 
 
Đảm bảo thu đáp ứng nhiệm vụ chi
 
2011-2020 là giai đoạn cuối cùng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội và là giai đoạn thực hiện mạnh mẽ cắt giảm thuế quan theo các lộ trình hội nhập đã ký kết. Theo đó, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã được cải cách trên các phương diện điều chỉnh giảm thuế suất thuế TNDN để giảm nghĩa vụ thuế cho DN; điều chỉnh tăng thuế suất thuế TTĐB để bù đắp nguồn thu; điều chỉnh đối tượng chịu thuế và căn cứ tính thuế của một số sắc thuế theo hướng mở rộng cơ sở thuế; sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật thuế, nhằm chống xói mòn cơ sở thuế và ngăn ngừa gian lận thuế; sửa đổi, bổ sung pháp luật thuế đáp ứng những yêu cầu của hội nhập quốc tế và thực tiễn quản lý thuế; sửa đổi quy định về ưu đãi thuế theo hướng ưu đãi cho đầu tư thực tế thay vì cam kết đầu tư.
 
Về cải cách quản lý thuế, định kỳ hàng năm, ngành thuế đều thực hiện rà soát để cắt giảm thủ tục hành chính. Qua các đợt điều chỉnh này đã bãi bỏ khoảng trên 40% thủ tục không cần thiết; cắt bỏ những chỉ tiêu không thực sự cần để đơn giản hóa các mẫu biểu, hồ sơ khai thuế. Tiếp đó, đã công khai và minh bạch hóa thủ tục hành chính thuế trên trang thông tin điện tử của ngành thuế (www.gdt.gov.vn), tại bộ phận một cửa của cơ quan thuế các cấp và thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Ngoài ra, với nỗ lực điện tử hóa quản lý thuế, từ năm 2011 đến nay, cơ quan thuế các cấp đã triên khai các phần mềm riêng biệt để hỗ trợ từng chức năng quản lý thuế, đặc biệt phần mềm quản lý thuế tập trung TMS đã điện tử hóa đồng bộ các chức năng quản lý thuế. Đồng thời, Luật Quản lý thuế (sửa đổi) số 38/2019/QH14 đã nâng cao tính pháp lý của việc điện tử hóa quản lý thuế từ thủ tục thuế đến các hoạt động tác nghiệp của cơ quan thuế.
 
Nhờ thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 đã đảm bảo thu NSNN đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cho phát triển kinh tế xã hội. Số thu NSNN có xu hướng tăng tương đối ổn định, đảm bảo cân đối thu-chi ngân sách ngày càng tốt hơn; tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP có xu hướng giảm. Cùng với đó, tỷ lệ thu NSNN so với GDP khá phù hợp với điều kiện kinh tế, trung bình đạt 23,56%-22,4%. So với những nước ở trình độ phát triển và có điều kiện tương đồng, thì tỷ lệ thu NSNN và thu thuế so với GDP của Việt Nam là phù hợp. Mặt khác, về cơ bản, cơ cấu thu NSNN đã chuyển biến theo hướng hợp lý hơn, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn thu hữu hạn và không ổn định, thu nội địa trừ dầu thô có xu hướng tăng và tăng mạnh, từ mức gần 50% năm 2011 lên hơn 80% giai đoạn từ 2017-2019. Một số khoản thuế quan trọng và ổn định như thuế GTGT, thuế TNDN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN. Thông qua thu ngân sách đã thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô lớn của Đảng và Nhà nước, góp phần tái phân phối thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội, làm cho hệ thống thuế công bằng hơn và hiệu quả hơn. Cải cách chính sách thuế và đặc biệt cải cách quản lý thuế đã tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi hơn, giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế…
 
Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn 2011-2020 vẫn còn một số hạn chế như cơ cấu thu NSNN vẫn còn chứa đựng những yếu tố chưa đảm bảo tính bền vững,  trong đó, thu tiền sử dụng đất và tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước trong những năm gần đây chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN; cơ cấu thuế trực thu và gián thu chưa đảm bảo tính công bằng của hệ thống thuế, đặc biệt, những năm gần đây tỷ trọng thuế trực thu có xu hướng giảm; chưa đạt được mục tiêu mở rộng cơ sở thuế như đã đề ra; cũng chưa đạt trình độ cao của minh bạch về thủ tục thuế; chỉ số nộp thuế chưa ổn định trong nhóm ASEAN 4. 
 
Định hướng cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2021-2030  
 
Trên cơ sở kết quả đạt được có thể thấy, phần lớn mục tiêu tổng quát của cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 vẫn còn nguyên giá trị, có thể tiếp tục kế thừa và điều chỉnh cho phù hợp với giai đoạn mới. Vì vậy, trong giai đoạn 2021-2030, mục tiêu cải cách hệ thống thuế vẫn nên là “Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, minh bạch, công bằng, hiệu quả, có tính ổn định cao, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý, nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước. Công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, có hiệu lực, hiệu quả cao, góp phần tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi dựa trên bốn nền tảng cơ bản là pháp luật thuế minh bạch, đơn giản, dễ hiểu và phù hợp thực tiễn; thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao trên cơ sở phát huy tối đa thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đội ngũ công chức quản lý thuế chuyên nghiệp và liêm chính, xây dựng ngành thuế Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, liêm chính, hiệu lực và hiệu quả”. 
 
Bên cạnh đó, so với mục tiêu của Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020, cần bổ sung thêm một số nội dung cải cách thuế để phản ánh đầy đủ các tiêu chuẩn của hệ thống thuế hiện đại. Cụ thể là: Về cải cách chính sách thuế, mục tiêu cao nhất là xây dựng và thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý, nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; thúc đẩy các DN Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở những phân khúc tạo ra giá trị cao.  
 
Hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí được sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; đáp ứng tốt yêu cầu chủ động hội nhập và hội nhập kinh tế quốc tế; khuyến khích thu hút cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, hệ thống chính sách thuế tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nâng cao hơn nữa tính minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện; mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn thu, bao quát các nguồn thu mới phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) đến năm 2025 đạt trên 85% tổng thu NSNN và đến năm 2030 đạt 90% tổng thu NSNN. 
 
Ngoài ra, một số định hướng sửa đổi, bổ sung cần được lưu ý gồm: giữ mức thuế suất thuế TNDN phổ thông 20% như hiện nay ổn định đến hết năm 2025; từ năm 2026 trở đi, căn cứ vào điều kiện cụ thể của nền kinh tế và bối cảnh cạnh tranh thuế quốc tế để có điều chỉnh phù hợp. Với thuế TNCN rà soát cắt giảm các khoản thu nhập miễn thuế không thực sự cần thiết để mở rộng cơ sở thuế; nghiên cứu sửa đổi biểu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hướng giảm mức thuế suất cao nhất để thu hút nhân lực chất lượng cao; giảm bớt các bậc thuế và điều chỉnh giãn cách các bậc thuế để điều tiết công bằng hơn thu nhập của người nộp thuế… Riêng với thuế GTGT, cần thu hẹp đối tượng không chịu thuế để mở rộng cơ sở thuế và đảm bảo tính liên hoàn; đến năm 2025 còn khoảng 20 nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT; đến năm 2030 còn khoảng 12 nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT; thu hẹp dần đối tượng áp dụng thuế suất 5% vào năm 2025 để đến năm 2030 áp dụng cơ chế một mức thuế suất ngoài mức thuế suất 0%.
 
Về cải cách quản lý thuế, mục tiêu tổng quát của giai đoạn 2021-2030 là tiếp tục hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính theo định hướng chuẩn mực quốc tế; xây dựng cơ quan thuế theo hướng cung cấp dịch vụ công phục vụ hoạt động kê khai, nộp thuế; nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ; hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị; nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền thuế; nâng cao năng lực hoạt động thanh, kiểm tra, giám sát tuân thủ pháp luật; ứng dụng công nghệ hiện đại để đảm bảo đến năm 2025 sẽ có 100% các thủ tục thuế thực hiện bằng phương thức điện tử; phấn đấu đưa Việt Nam ổn định trong top 4 khu vực Đông Nam Á trong xếp hạng mức độ thuận lợi về thuế vào giai đoạn 2021-2025 và ổn định trong tốp 3 giai đoạn 2026-2030. Theo đó, ngoài việc tiếp tục rà soát cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, thì ngành thuế cần tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý, đảm bảo việc kê khai thuế nộp thuế điện tử được đơn giản và dễ dàng nhất; phấn đấu đến năm 2022, 100% bộ thủ tục hành chính thuế được thực hiện bằng phương thức điện tử kết nối với cổng dịch vụ công trực tuyến quốc gia ở cấp độ 4 và nâng lên mức độ cao hơn vào những năm tiếp theo. Cùng với đó, cần hoàn thiện việc kết nối thông tin tự động quản lý thuế với các cơ quan nhà nước, chậm nhất vào năm 2025; hoàn thiện cơ sở dữ liệu người nộp thuế đầy đủ, chính xác, tập trung thống nhất; tích cực tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế về thuế. Đặc biệt, cần nghiên cứu, áp dụng các phương pháp dự báo thu hiện đại, tiên tiến trên thế giới để nâng cao chất lượng công tác phân tích, dự báo thu ngân sách của Việt Nam.
PGS, TS Lê Xuân Trường

Gửi bình luận


Mã bảo mật