Bất cập ưu đãi thuế nhìn từ thực tiễn

(TCT online) - Ưu đãi thuế dù được coi là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách thuế của Việt Nam kể từ khi cải cách và mở cửa nền kinh tế. Tuy nhiên đến nay, nhiều quy định ưu đãi đã không còn phù hợp với thực tiễn, thậm chí gây ra không ít khó khăn, vướng mắc cho việc thực hiện.
 
 
Ưu đãi rộng làm giảm vai trò “định hướng” của chính sách
 
Ông Nguyễn Văn Bột, Phó Cục trưởng Cục Thuế Quảng Ninh cho biết,  là một trong 5 địa phương có số thu ngân sách đứng đầu cả nước, thời gian qua, chính sách thuế đã tạo điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn. Giai đoạn 2016-2020, Cục Thuế Quảng Ninh đã tham gia ý kiến về chính sách ưu đãi đầu tư đối với hơn 380 hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; thực hiện miễn, giảm thuế theo chính sách ưu đãi đối với 177.498 hồ sơ với tổng số tiền hơn 2.837 tỷ đồng. Trong đó, thuế GTGT là 87.319 hồ sơ với số tiền là 60,9 tỷ đồng; thuế TTĐB là 1.842 hồ sơ với số tiền 3,5 tỷ đồng; thuế TNDN 160 hồ sơ với 1.278,5 tỷ đồng; thuế tài nguyên là 26 hồ sơ với 15,6 tỷ đồng; thuế TNCN là 87.488 hồ sơ với 28,6 tỷ đồng; tiền thuê đất là 464 hồ sơ với 1.443 tỷ đồng… Cùng với các chính sách kinh tế khác, việc áp dụng ưu đãi thuế đã có nhiều tác động tích cực đối với sự phát triển của địa phương. Bên cạnh đó, việc áp dụng ưu đãi thuế còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng miền, gia tăng xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
 
Tuy nhiên theo ông Bột, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai các chính sách ưu đãi thuế thời gian qua đã bộc lộ nhiều bất cập. Trước hết là việc quy định danh mục ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn được hưởng ưu đãi khá rộng, đã làm giảm vai trò định hướng  của chính sách ưu đãi thuế trong việc thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế xã hội. Chưa kể, phạm vi ưu đãi rộng đồng nghĩa với chi phí áp dụng các chính sách ưu đãi thuế cao. Ông Bột dẫn chứng, mặc dù thuế trực thu (TNDN, TNCN, sử dụng đất phi nông nghiệp) có vai trò rất lớn, nhưng mức độ đóng góp đang có xu hướng giảm và thấp hơn thuế gián thu (GTGT, TTĐB, bảo vệ môi trường, tài nguyên). Chỉ tính riêng năm 2020, thu từ thuế TNDN của Quảng Ninh chiếm 9,3% ước tổng thu ngân sách nội địa, trong khi năm 2011 là 23%; thuế TNCN ước chiếm 3,6% tổng thu nội địa trong khi 2011 chiếm 3,7%... Ngược lại, thuế GTGT giai đoạn 2011-2020 luôn chiếm tỷ trọng lớn (28,4-36,8%) trong tổng thu nội địa và trở thành nguồn động viên ngân sách quan trọng nhất hiện nay của Quảng Ninh. Hay như thuế bảo vệ môi trường ước năm 2020 chiếm 10,8%, trong khi năm 2011 chỉ chiếm 4,2% tổng thu nội địa…
 
Thực tế này đang xảy ra không chỉ ở Quảng Ninh mà còn ở nhiều địa phương khác. Theo đại diện Cục Thuế Bắc Ninh, việc lồng ghép nhiều chính sách xã hội trong ưu đãi thuế, trong đó với 12 khoản thu nhập được miễn thuế TNDN đã phần nào làm ảnh hưởng đến tính chất trung lập của thuế TNDN và nguyên tắc DN kinh doanh có lợi nhuận thì phải có nghĩa vụ đóng góp cho NSNN. Mặt khác, mức ưu đãi về thuế suất và thời gian miễn, giảm ở một số lĩnh vực, ngành nghề không được đánh giá cao. Cụ thể, hiện nay có một số ngành nghề lĩnh vực được áp dụng mức thuế suất 10-15% với thời gian từ 15 năm là quá dài… Chưa kể, các chính sách ưu đãi thuế do chưa đồng bộ, đối tượng áp dụng được quy định tại nhiều văn bản, dẫn đến cách hiểu của DN và cơ quan thuế còn khác nhau. 
 
Ngay tại Hưng Yên, trường hợp xác định ưu đãi thuế TNDN tại Công ty TNHH Hoya Glass Disk Việt Nam II, do cách hiểu khác nhau và số tiền ưu đãi lớn (ước tính 400 tỷ đồng), nên Cục Thuế đã phải có nhiều văn bản báo cáo UBND tỉnh và Tổng cục Thuế đề nghị hướng dẫn. Bản thân DN cũng có nhiều kiến nghị để xác định ưu đãi thuế, nhưng đến thời điểm này, DN này vẫn chưa đồng ý với kết luận của cơ quan thuế.
 
Ưu đãi phải tạo hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế
 
Từ thực tiễn thu ngân sách, đa số các cục thuế đều cho rằng, cần thu hẹp danh mục ngành, nghề và địa bàn được hưởng ưu đãi thuế. Chính sách ưu đãi phải hướng vào các ngành, nghề có khả năng tạo ra hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế để DN Việt Nam đổi mới, nâng cao khả năng cạnh tranh. Theo nguyên tắc này, ông Bột đề nghị, cần hoàn thiện khuôn khổ đánh giá hiệu quả của ưu đãi thuế, thực hiện phân tích chi phí-lợi ích của các chính sách ưu đãi thuế một cách thận trọng và mang tính dài hạn trước khi ban hành. Điều quan trọng nhất là phải đảm bảo tính công bằng trong ưu đãi giữa các loại hình DN. Mặc dù quy định trong hệ thống chính sách ưu đãi của Việt Nam hiện nay không có sự phân biệt, nhưng trên thực tế, các DN FDI đang được hưởng lợi nhiều nhất, trong khi mức độ tiếp cận của DN trong nước lại khá hạn chế. Mặt khác, theo ông Bột, do đang có sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật, nên cần có quy định cụ thể về địa bàn, lĩnh vực được ưu đãi, đảm bảo sự đồng bộ giữa các chính sách, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư khi áp dụng, cũng như quá trình kiểm soát của cơ quan nhà nước.
 
Trong khi đó, theo Cục Thuế Hưng Yên, cần phải nhận thức đầy đủ rằng, chính sách thuế chỉ là một bộ phận cấu thành và không phải là điều kiện quan trọng nhất trong thu hút vốn đầu tư. Do vậy, cần hướng đến một hệ thống thuế tốt với chi phí tuân thủ thấp cho người nộp thuế, tức là minh bạch, công bằng, hiệu quả. Cùng với đó, không quy định dàn trải ở nhiều luật chuyên ngành để đảm bảo tính thống nhất và minh bạch. Ngoài ra, chỉ nên tập trung ưu đãi thuế đối với một số ít ngành lĩnh vực quan trọng có sự định hướng phát triển của Nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế.
Thuý Nga

Tin mới

Các tin khác