RCEP sẽ không tạo cú sốc về giảm thuế

(TCT Online)- Đó là thông tin được bà Hoàng Diệu Linh - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Tài chính) chia sẻ với Tạp chí Thuế xung quanh các cam kết thuế quan tại Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vừa được ký kết ngày 15/11.

 

 

 

Hiệp định RCEP được đánh giá sẽ trở thành động lực để thúc đẩy tăng trưởng và hồi phục kinh tế thế giới vốn đang chịu ảnh hưởng nặng nề của Covid-19. Bà có thể phân tích cụ thể hơn những cơ hội và thách thức cho kinh tế Việt Nam, nhất là ở lĩnh vực tài chính?

 

Với quy mô thị trường rộng lớn và dân số 2,2 tỷ người, chiếm khoảng 30% dân số thế giới, RCEP là mắt xích quan trọng để các DN tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Sự hình thành RCEP sẽ đóng góp vào quá trình củng cố hệ thống thương mại đa phương, thúc đẩy hội nhập, phát triển kinh tế trong khu vực, góp phần hỗ trợ kết nối chuỗi cung ứng khu vực, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi hậu Covid-19. Phải khẳng định rằng, trước khi bước vào đàm phán RCEP, giữa khối ASEAN và các nước đối tác đã hình thành các hiệp định thương mại tự do (FTA ASEAN+). Vì vậy, mục tiêu của RCEP không phải là xây dựng các quan hệ thương mại tự do mới, mà tập trung nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN trong khu vực. RCEP có phạm vi cam kết ở nhiều lĩnh vực hơn so với các FTA ASEAN+.

 

Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, RCEP còn tạo ra khuôn khổ để đơn giản hóa thủ tục hải quan, hài hòa các quy tắc xuất xứ hiện có trong khi thiết lập các quy tắc mới phù hợp hơn, tạo thuận lợi thương mại cho hàng hóa lưu chuyển trong khối, tạo không gian kết nối chung sản xuất trong khu vựcvà kết nối giữa ASEAN với các đối tác. Việc triển khai thực thi các cam kết của RCEP sẽ là cơ hội cho DN Việt Nam mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng và chủ động nguồn hàng hóa nhập khẩu, tham gia các chuỗi giá trị mới trong khu vực, thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, RCEP có thể sẽ mang tới những sức ép cạnh tranh đối với hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam.

 

Nhiều nền kinh tế trong RCEP có cơ cấu sản phẩm tương tự Việt Nam, nhưng năng lực cạnh tranh tốt hơn. Ở trong nước, nhiều ngành sản xuất vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu nhất là nguyên phụ liệu sản xuất, trong khi khả năng cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị khu vực còn hạn chế, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị cung cấp thương mại dịch vụ toàn cầu của Việt Nam còn khá khiêm tốn. 

 

Bộ Tài chính là đơn vị chịu trách nhiệm đàm phán toàn bộ các cam kết thuế quan, cũng như các cam kết mở cửa thị trường đối với các dịch vụ tài chính quan trọng như bảo hiểm, chứng khoán và hợp tác hải quan, tạo thuận lợi thương mại. Trong lĩnh vực thuế quan, nhìn chung Việt Nam không chịu nhiều áp lực về mức độ mở cửa thị trường khi thực thi Hiệp định RCEP. Với việc triển khai các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa hiện nay, cùng với quá trình tự do hóa thuế quan được thực thi trong nhiều năm qua, thì việc thực thi cam kết trong khuôn khổ RCEP sẽ không tạo cú sốc về giảm thuế nhập khẩu và gia tăng cạnh tranh đối với các ngành sản xuất kinh doanh trong nước.

 

Cụ thể, tại Hiệp định RCEP, các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những cam kết về thuế quan như thế nào, thưa bà? Điều này có giúp hàng hoá của Việt Nam có lợi khi xuất khẩu sang các nước thành viên?

 

Về phạm vi thuế quan tại RCEP, các bên tham gia không cam kết trong lĩnh vực thuế xuất khẩu mà chỉ đưa ra các cam kết đối với thuế nhập khẩu. Các nước cam kết đối với toàn bộ biểu thuế, bao gồm các danh mục xóa bỏ thuế nhập khẩu, cắt giảm thuế và loại trừ đối với phạm vi nhỏ dòng thuế. Các nước đối tác cam kết tỷ lệ tự do hóa cho ASEAN cũng như các nước ASEAN cam kết cho nhau vào khoảng 90-92%, trong khi tỷ lệ tự do hóa một số nước đối tác dành cho nhau và một số nước ASEAN dành cho nước đối tác ở mức thấp hơn (83-89%). Sự khác biệt này phản ánh trình độ phát triển khác nhau giữa các nền kinh tế RCEP cũng như mối quan hệ thương mại đan xen trong khu vực.

 

Việc xóa bỏ, cắt giảm thuế nhập khẩu được thực hiện theo cam kết tại biểu thuế của các bên. Tỷ lệ tự do hóa đạt mức cao tại các thời điểm 10 năm, 15 năm hoặc 20 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, tùy thuộc vào cam kết cụ thể của các bên. Điểm đáng chú ý, hầu hết các bên sẽ thực hiện xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định RCEP có hiệu lực đối với lượng lớn số dòng thuế (từ 64%-82% số dòng thuế). Đây là mức cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực tương đối mở so với các FTA trước đây. Lý do chính đó là hiện trạng chính sách thương mại của các bên khi tham gia RCEP đã có độ mở cao sau một thời gian dài tham gia các khuôn khổ hiệp định thương mại đa phương và song phương. Theo lộ trình cam kết trong Hiệp định RCEP, tỷ lệ xóa bỏ thuế quan Việt Nam dành cho ASEAN ở mức 90,3%, Australia và Newzealand đạt 89,6%, Nhật Bản và Hàn Quốc 86,7%, Trung Quốc là 85,6%.

 

 

 

Phạm vi cam kết của các bên tham gia RCEP đối với lĩnh vực mở cửa thị trường hàng hóa là trên toàn bộ biểu thuế, bao trùm toàn bộ hàng hóa trong thương mại quốc tế. Các nước đối tác của ASEAN trong Hiệp định RCEP đều là các nền kinh tế lớn, có độ mở tương đối cao. Các nước này dành cho ASEAN tỷ lệ tự do hóa ở mức cao 90-92% - được xem là xóa bỏ hầu hết số dòng thuế của biểu cam kết. Với mức độ mở cửa như vậy, đây sẽ là cơ hội cho DN Việt Nam mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, tham gia các chuỗi giá trị mới trong khu vực. Thuế nhập khẩu được xóa bỏ và cắt giảm theo lộ trình cùng với việc đáp ứng đầy đủ về quy tắc xuất xứ hàng hóa theo quy định của RCEP sẽ giúp các sản phẩm thế mạnh của Việt Nam như viễn thông, công nghệ thông tin, dệt may, giày dép và nông nghiệp có thêm cơ hội về thị trường.

 

Tuy nhiên, để có thể tận dụng tối đa các ưu đãi thuế quan, bà có lời khuyên gì cho các DN Việt Nam? 

 

Hoàn tất việc ký kết Hiệp định RCEP là dấu mốc quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển thương mại khu vực. Việc đưa Hiệp định sớm đi vào thực thi đều là mong muốn của các bên. Sau đây, các nước tham gia ký kết sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết trong nước để phê duyệt Hiệp định. Theo quy định, Hiệp định RCEP sẽ có hiệu lực sau 60 ngày sau khi có ít nhất 6 nước ASEAN và 3 nước đối tác thông báo phê duyệt. Về phần mình, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ ban hành nghị định về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực thi các cam kết, còn Bộ Công thương sẽ ban hành thông tư quy định về quy tắc xuất xứ của Hiệp định.

 

Tôi cho rằng, sau khi Hiệp định RCEP được phê duyệt và đưa vào thực thi, vấn đề đặt ra đó là yêu cầu thực hiện đồng bộ các giải pháp triển khai từ Chính phủ, bộ, ngành và các địa phương. Đặc biệt, để tận dụng tối đa các cơ hội, ưu đãi từ Hiệp định thì không thể thiếu sự chủ động, tích cực của cộng đồng DN. Do vậy, các DN, hiệp hội cần nhanh chóng tiếp cận các thông tin của Hiệp định RCEP, chủ động nghiên cứu, tìm hiểu thị trường; hướng hợp tác để thu hút đầu tư vào Việt Nam, tận dụng hiệu quả nguồn vốn, chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn lớn, chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực; DN cũng cần coi trọng tăng cường sức cạnh tranh, xem đây là động lực để đổi mới, phát triển trong thương mại quốc tế. 

 

Xin trân trọng cảm ơn!

Thuý Nga (thực hiện)

 

Hiệp định RCEP được các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và các nước đối tác gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và Newzeland ký kết theo hình thức trực tuyến vào ngày 15/11/2020, dưới sự chứng kiến của các nhà lãnh đạo cấp cao RCEP tại Hội nghị Cấp cao RCEP lần thứ 4, diễn ra bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN 2020 dưới sự chủ trì của Việt Nam với vai trò là nước Chủ tịch ASEAN 2020. 

 

 

 

 

Gửi bình luận


Mã bảo mật