NĐ 132 là bước tiến lớn về phòng chống chuyển giá, chuyển lợi nhuận

(TCT online) - Đó là nhận định của PGS, TS Phạm Thế Anh, Trưởng bộ môn Kinh tế vĩ mô (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) khi nói về Nghị định 132/2020/NĐ-CP (NĐ 132) về quản lý thuế đối với DN có giao dịch liên kết, vừa được Chính phủ ban hành.
 
 
Theo PGS, TS Phạm Thế Anh, với những cam kết khi gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) và các hiệp định thương mại tự do khác (FTAs), nhìn chung Việt Nam không nên phân biệt đối xử giữa DN trong nước với nước ngoài. Nguyên tắc này cũng phải được áp dụng trong quản lý thuế đối với các DN có giao dịch liên kết nhằm chống tránh, trốn thuế. Đồng thời, Việt Nam nên dần xóa bỏ tất cả các ưu đãi thuế mang tính phân biệt đối xử mà các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang thụ hưởng so với khu vực DN trong nước. Ưu đãi thuế với các "đại bàng" FDI chỉ nên dùng như một phương sách cuối cùng và có những ràng buộc cụ thể như chuyển giao công nghệ và chuỗi cung ứng. “Việt Nam đang áp dụng nhiều mức thuế ưu đãi khác nhau, tùy thuộc vào quy mô, tuổi đời và địa bàn hoạt động, nên giữa các DN trong nước cũng có thể có sự khác biệt về thuế suất TNDN. Do vậy, việc chống chuyển lợi nhuận không chỉ là câu chuyện của riêng DN nước ngoài”- PGS, TS Phạm Thế Anh nhấn mạnh.
 
Mặt khác, theo PGS, TS Phạm Thế Anh, NĐ 132 hiện nay, hay Nghị định 20/2017/NĐ-CP (NĐ 20) trước đây là một bước tiến lớn của Bộ Tài chính trong công tác quản lý thuế, nhằm phòng chống chuyển giá, chuyển lợi nhuận theo tinh thần của Chương trình hành động chống xói mòn cơ sở thu thuế và chuyển lợi nhuận” (BEPS) mà nhiều nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đang thực hiện. Phân tích cụ thể hơn, PGS, TS Phạm Thế Anh cho hay, khi triển khai ở Việt Nam, nội dung gây nhiều tranh cãi nhất liên quan đến trần tổng chi phí lãi vay/thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao (EBITDA) được khấu trừ thuế. Cần phải khẳng định, mục đích của NĐ 132 hiện nay, hay NĐ 20 trước đây là không hạn chế DN vay nợ, mà chỉ hạn chế vay nợ từ các công ty liên kết (công ty bố mẹ, anh em, họ hàng…). Do vậy, liên quan tới nội dung này, so với NĐ 20 thì NĐ 132 đã có những sửa đổi quan trọng. Cụ thể, khi tính tỷ lệ tổng chi phí lãi vay/EBITDA để áp dụng mức trần, NĐ 132 sử dụng tổng chi phí lãi vay ròng, tức là chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay. Theo đó, nếu tổng chi phí lãi vay/EBITDA vượt quá mức trần quy định, thì DN không được khấu trừ thuế. Trước đó, theo nghiên cứu của PGS, TS Phạm Thế Anh, số lượng DN có tỷ lệ tổng chi phí lãi vay (không phải tổng chi phí lãi vay ròng)/EBITDA là rất nhỏ, chỉ vài trăm DN FDI. Nếu loại bỏ những DN không có giao dịch liên kết đi nữa, thì số còn lại chẳng đáng là bao. Lợi ích của việc áp trần tổng chi phí lãi vay/EBITDA không chỉ dừng ở việc chống chuyển lợi nhuận, mà còn ở việc chống vốn mỏng, làm lành mạnh thị trường vốn, thị trường tín dụng, hạn chế những đặc quyền đặc lợi từ DNNN so với DN tư nhân. Tuy nhiên, PGS, TS Phạm Thế Anh cũng cho rằng, NĐ 132 cho phép các DN có phần chi phí lãi vay vượt trần này được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo, nhưng không quá 5 năm. Điều này sẽ giúp cho các DN có đầu tư lớn (tài trợ bằng vay nợ) vào một năm nào đó có thể phân bổ chi phí lãi vay cho những năm kế tiếp.
 
Ngoài ra, một điểm tích cực đáng chú ý khác nữa là NĐ 132 đã bổ sung yêu cầu các công ty đa quốc gia phải thực hiện báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (The country - by -country report). Quy định này đã tiệm cận với những thông lệ quốc tế. Hiện nay, việc nộp báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của các công ty mẹ tối cao đã được các nước thành viên BEPS thống nhất áp dụng trong chính sách quản lý và hướng tới cơ chế trao đổi thông tin tự động trong giai đoạn 2019-2020. Vì vậy, NĐ 132 đã quy định chi tiết các trường hợp người nộp thuế tại Việt Nam có công ty mẹ tối cao tại nước ngoài phải có nghĩa vụ lập báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho cơ quan thuế
Hương Quỳnh

Gửi bình luận


Mã bảo mật