“Giải quyết khó khăn không nên đơn thuần bằng chính sách thuế”

(TCT online) - Đó là quan điểm của PGS, TS Lê Xuân Trường, Trưởng khoa Thuế và Hải quan, Học viện Tài chính khi trao đổi về vấn đề thu thuế đối với khoản tiền trợ cấp mất việc.
 
 
Gần đây một số bài báo có phản ánh việc thu thuế TNCN đối với khoản tiền trợ cấp mất việc của công nhân Công ty PouYuen. Theo đó, các báo cho rằng, việc thu thuế này là không phù hợp. Trên góc độ của một nhà nghiên cứu chuyên sâu về chính sách thuế - tài chính, kiêm chuyên gia kinh tế, ông có thể cho biết quan điểm cá nhân về vấn đề này?
 
Câu hỏi mà dư luận đặt ra là “có phù hợp không” theo tôi cần nhìn nhận trên hai giác độ: thứ nhất là có đúng luật không? và thứ hai là có đúng đạo lý không? Ở giác độ thứ nhất, chúng ta đang xây dựng “Nhà nước pháp quyền XHCN” và thực hiện quản lý kinh tế - xã hội theo phương châm “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Bởi vậy, việc tính thuế TNCN phải căn cứ vào Luật Thuế TNCN và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 thì khoản tiền trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ Luật lao động không chịu thuế TNCN. Như vậy, đối với khoản trợ cấp mất việc mà Công ty PouYuen chi trả cho người lao động theo đúng mức quy định của Bộ luật lao động thì đương nhiên không chịu thuế TNCN, chỉ phần chi trả vượt trên mức quy định của Bộ luật Lao động thì mới phải chịu thuế. Điều này cho thấy, việc tính vào thu nhập chịu thuế đối với phần trợ cấp mất việc vượt mức quy định của Bộ luật Lao động là đúng quy định pháp luật.
 
Ở giác độ thứ hai là có đúng đạo lý không? Về nguyên tắc, khi người lao động nhận được các khoản tiền lương và các khoản lợi ích khác từ người sử dụng lao động, thì đó là thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động. Tuy nhiên, khi thảo luận và quyết định các nội dung của thuế TNCN năm 2007, Quốc hội đã xác định áp dụng chính sách xã hội đối với người lao động gặp khó khăn, nên mới thông qua quy định phần trợ cấp mất việc theo quy định của Bộ luật Lao động không chịu thuế. Thêm vào đó, mức chi trả trợ cấp mất việc theo Điều 49 Bộ luật Lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên từ 12 tháng trở lên “mỗi năm làm việc một tháng lương” là đã đảm bảo cuộc sống cho người lao động phải nghỉ việc vì lý do thay đổi công nghệ và kinh tế. Vì thế, cùng với việc người lao động được giảm trừ gia cảnh khi tính thuế TNCN, việc không tính vào thu nhập chịu thuế đối với phần trợ cấp thất nghiệp thực sự đã đảm bảo chính sách không đánh thuế TNCN đối với người lao động có thu nhập thấp. Ở đây cũng cần lưu ý thêm là, nếu như Luật Thuế TNCN không khống chế mức trợ cấp mất việc không chịu thuế theo quy định của Bộ luật lao động thì sẽ dẫn đến khả năng lợi dụng để tránh thuế. Nói cách khác, quy định pháp luật thuế còn phải đảm bảo tính công bằng, tính hiệu quả và ngăn ngừa gian lận thuế.
 
Những phân tích trên cho thấy, việc tạm thu thuế đối với phần trợ cấp mất việc trả cho người lao động vượt trên mức quy định của Bộ luật lao động là hoàn toàn phù hợp cả về pháp luật và về đạo lý.
 
Cũng liên quan đến sự việc này, có ý kiến đề xuất tạm dừng thu thuế đối với khoản tiền trợ cấp mất việc làm để tháo gỡ khó khăn cho người lao động. Theo ông, đề xuất này có hợp lý?
 
Muốn không thu thuế đối với khoản tiền trợ cấp mất việc phải do Quốc hội quyết định, không thể tạm dừng tùy tiện bởi cơ quan hành pháp. Quốc hội có nên không thu thuế đối với khoản này không, thì cần xem xét đạo lý của việc không thu thuế. Như tôi đã phân tích ơrở trên, khi quy định khoản trợ cấp mất việc theo quy định của Bộ luật Lao động, Quốc hội đã tính đầy đủ đến chính sách đối với người lao động có thu nhập thấp. Cũng cần lưu ý thêm là, thuế TNCN được tạm khấu trừ bởi người chi trả thu nhập và quyết toán thuế chính thức theo năm. Như vậy, giả định người lao động ở Công ty PouYuen đã được tạm khấu trừ thuế mà đến cuối năm khi tổng hợp toàn bộ thu nhập chịu thuế từ các nguồn khác nhau và xác định thu nhập tính thuế sau khi đã tính các khoản giảm trừ dẫn đến số thuế phải nộp thấp hơn số thuế đã tạm khấu trừ, thì người nộp thuế được hoàn thuế. Chúng ta cũng không nên bắt chính sách thuế phải làm thay các chính sách khác của Nhà nước. Chẳng hạn như chính sách chi ngân sách đối với người nghèo, người lao động gặp khó khăn thì không thể giải quyết bằng chính sách thuế. Xu hướng chung của cải cách thuế các nước trên thế giới là giảm bớt lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách thuế. Các chính sách xã hội cần thực hiện bằng công cụ chi ngân sách và chính sách an sinh xã hội. Có như vậy, mới xây dựng được một hệ thống thuế đơn giản, công bằng và hiệu quả.
 
Vậy theo ông, giải pháp xử lý tốt nhất hiện nay cho vấn đề này là gì?
 
Quản lý nhà nước phải đảm bảo cả tính công bằng, hiệu quả và phải được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau. Mỗi công cụ chính sách có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Do đó, cần sử dụng các công cụ chính sách đúng đối tượng và đúng mức độ để đạt được các mục tiêu của quản lý nhà nước, vừa đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo đời sống người lao động, vừa đảm bảo nguồn lực để Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế và thực hiện các chính sách xã hội. Như vậy, trong trường hợp người lao động gặp khó khăn, thì không nên giải quyết đơn thuần bằng chính sách thuế, mà phải bằng các chính sách an sinh xã hội khác. Trên thực tế, Chính phủ đã làm rất tốt việc này. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 quy định chính sách hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Điều này cho thấy, các chính sách của chúng ta đang đi đúng hướng. Vì vậy, việc quan trọng nhất hiện nay là tổ chức thực hiện tốt các chính sách đã ban hành. Nếu điều kiện thực tiễn thay đổi thì sẽ nghiên cứu điều chỉnh chính sách cho phù hợp.
Xin cám ơn ông.
PV thực hiện

Gửi bình luận


Mã bảo mật