Tinh thần thuế: yếu tố cốt lõi trong quản lý thuế hiện đại

(TCT online) - Những năm gần đây, tinh thần thuế trở thành yếu tố không thể thiếu trong các nghiên cứu về tuân thủ thuế (Togler, 2003; Togler, 2007; Randlane, 2016). Theo đó, hàng loạt các nghiên cứu gần đây đã được thực hiện để khám phá tầm quan trọng của tinh thần thuế, cuối cùng Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã thừa nhận vai trò của tinh thần thuế trong việc chuyển đổi mô hình quản lý thuế theo bối cảnh mới (OECD, 2019) và giảm thiểu sự không chắc chắn trong chính sách thuế (IMF, 2019). 
 
 
Tổng quan lý thuyết về tinh thần thuế
 
Tinh thần thuế là một trong những yếu tố quan trọng liên quan trực tiếp đến động lực tuân thủ thuế, động lực nội tại của người nộp thuế để đóng góp thuế cho chính phủ (Togler, 2003, 2007). Hầu hết các hệ thống thuế đều dựa trên sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế cho phần lớn doanh thu của họ. OECD (2009) cho rằng, tinh thần thuế được hình thành bởi nhiều yếu tố liên kết với nhau và sự liên kết này được lý giải bởi lý thuyết về sự thay đổi tuân thủ thuế của Ngân hàng Thế giới. Tinh thần thuế còn được hiểu là nhận thức và thái độ của người nộp thuế đối với việc tuân thủ và không tuân thủ thuế. Do đó, việc nâng cao tinh thần người nộp thuế sẽ giúp gia tăng nguồn thu, mà không cần quá nhiều nỗ lực thi hành luật thuế. 
 
Lý thuyết về sự thay đổi trong quản lý thuế của Ngân hàng Thế giới được đề cập trong báo cáo của OECD (2019) nhấn mạnh mối liên kết động giữa niềm tin, sự thuận lợi hóa và yếu tố thực thi trong việc hình thành tinh thần thuế. Theo đó, khi một hệ thống thuế vận hành theo hướng tạo thuận lợi, sẽ giúp người nộp thuế cảm nhận tốt hơn về tính công bằng của hệ thống thuế.
 
Các nghiên cứu phát hiện nhiều yếu tố tác động đến tinh thần thuế, và có sự khác biệt giữa cá nhân và DN. Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều tranh luận, nhưng về cơ bản, các yếu tố này có thể chia thành hai nhóm sau: 
 
Nhóm 1 là các yếu tố kinh tế xã hội. Nghiên cứu trên toàn cầu nhấn mạnh rằng, các yếu tố kinh tế xã hội có thể góp phần giải thích tinh thần thuế theo cách người nộp thuế có trình độ học vấn cao hơn sẽ có thái độ nộp thuế tích cực hơn; phụ nữ có tinh thần thuế tốt hơn nam giới; người trẻ tuổi thường biện minh cho hành vi gian lận thuế của họ hơn so với người lớn tuổi; công dân của một quốc gia thường có tinh thần thuế cao hơn người nộp thuế không có quốc tịch của quốc gia đó; người nộp thuế có đức tin (tôn giáo) có thái độ tích cực hơn đối với nộp thuế. Tuy nhiên, tùy bối cảnh địa phương cụ thể, xu hướng tác động của các yếu tố kinh tế xã hội này đến tinh thần thuế có thể có sự thay đổi.
 
Nhóm 2 là các yếu tố thể chế, theo đó, chính sách và kết quả vận hành chính sách của chính phủ có tác động đáng kể đến tinh thần thuế. Cụ thể, người nộp thuế tin rằng xã hội đảm bảo công bằng sẽ làm cho tinh thần thuế cao đáng kể; người nộp thuế có sự tin tưởng vào chính phủ của quốc gia sẽ thể hiện tinh thần thuế cao hơn; người nộp  thuế đề cao tính dân chủ đều tin rằng gian lận thuế là hành vi không thể biện minh được vì nó không chính đáng; người nộp thuế ủng hộ tái phân phối thu nhập từ người giàu cho người nghèo hơn có tinh thần thuế cao hơn. 
 
Đặc điểm chung của các nhân tố này là, nếu kết quả hoạt động của chính phủ đáp ứng nhu cầu của công dân sẽ có tác dụng thúc đẩy tinh thần thuế. Niềm tin của người nộp thuế vào chính phủ bị ảnh hưởng bởi hiệu quả trong việc thực hiện lời hứa về cung cấp hàng hóa, dịch vụ công khi huy động nguồn thu ngân sách. 
 
Kinh nghiệm về tinh thần thuế của các quốc gia
 
Vương quốc Anh đã có những nỗ lực để làm mới mối quan hệ giữa người quản lý thuế, người nộp thuế và người tư vấn thuế (Dabner và Burton, 2012). Năm 1999, đại diện của cơ quan thuế Anh (HMRC) và các cơ quan chuyên môn đã đưa ra một tài liệu có tên là “Work together: The original Agreement”(tạm dịch là làm việc cùng nhau - thỏa thuận ban đầu), nhằm cải thiện mối quan hệ hợp tác nâng cao của hệ thống thuế, tương tự với các chương trình được thông qua ở Australia và New Zealand. Song song với sáng kiến này, Anh đã tạo ra các khuôn khổ hướng đến việc xây dựng mối quan hệ tốt hơn giữa HMRC và DN. Tác giả Varney Review năm 2006 đã xác định những khó khăn về năng lực kỹ thuật của nhân viên cơ quan doanh thu nội địa như thiếu năng lực đưa ra quyết định nhanh chóng về các vấn đề kỹ thuật, sự thiếu hụt nhân lực trong việc quản lý quan hệ khách hàng, kiến thức hạn chế về thương mại. Sau đó, HMRC đã mở rộng chương trình này cho các DN vừa và nhỏ, với sự cam kết linh hoạt trong giải quyết tranh chấp nhanh chóng và chủ động hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ nghĩa vụ thuế. HMRC khẳng định, việc xây dựng mối quan hệ tốt hơn với các đại lý thuế là thiết yếu. Nghiên cứu của HMRC đã thành công trong việc áp dụng mô hình mối quan hệ hợp tác nâng cao. Vào năm 2008, khoảng 87% người nộp thuế kinh doanh lớn đánh giá trải nghiệm giao dịch với HMRC là khá hoặc rất tốt.  
 
Ở châu Mỹ - Latinh, những năm gần đây, tinh thần thuế có dấu hiệu giảm sút do tồn tại tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng cùng với các xu hướng toàn cầu như thay đổi công nghệ và một số vụ việc bê bối tham những. Tỷ lệ người nộp thuế nhận định về tính không chính đáng của hành vi trốn thuế đã giảm từ 54% (năm 2011) xuống còn 48% (năm 2015). Nghiên cứu của OECD (2019) cho thấy, một mối quan hệ hỗn hợp giữa các dịch vụ công cộng và tinh thần thuế. Theo đó, người nộp thuế hài lòng với y tế công cộng có tinh thần thuế cao hơn. Trong khi, người nộp thuế hài lòng với giáo dục không có tác động có ý nghĩa thống kê đến tinh thần thuế. Ngược lại, sự tin tưởng vào chính phủ và cảm nhận về tham nhũng có tác động đến tinh thần thuế của khu vực này.
 
Ở châu Á, không chỉ riêng Việt Nam, dữ liệu về tinh thần thuế ở các quốc gia rất hạn chế (OECD, 2019). Mặc dù vậy, theo dữ liệu khảo sát World Values Survey data, những người nộp thuế quan tâm đến khía cạnh công bằng trong xã hội có tinh thần thuế cao hơn; người nộp thuế có trình độ cao hơn cũng như phụ nữ có tinh thần thuế tốt hơn. Điều này một lần nữa nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc thúc đẩy nhận thức về thuế và tinh thần thuế trong cộng đồng.
 
Khuyến nghị chú trọng tinh thần thuế ở Việt Nam
 
Xu hướng phát triển gần đây là sự ra đời và phát triển các hợp đồng tài khóa (thể hiện qua các thỏa thuận, hiệp ước được ký kết giữa cơ quan thuế và người nộp thuế đối với một số dịch vụ tuân thủ thuế nhất định).  Cụ thể, cơ chế hợp tác tuân thủ (phát triển từ đề xuất ban đầu của OECD là cải thiện mối quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế - the enhanced relationship) được OECD thảo luận trong báo cáo năm 2008, đã được thử nghiệm mạnh mẽ ở Hà Lan, Bỉ. Việc triển khai mô hình này được xem là một bước đột phá trong việc cải thiện tư duy quản lý thuế vốn đã thịnh hành trước đó. Cơ chế hợp tác tuân thủ vận hành dựa trên nền tảng của 3 yếu tố là sự minh bạch, sự tin tưởng và hiểu biết. Do đó, cơ chế này ra đời nhằm hạn chế các lỗi vô ý xảy ra. 
 
Hiện tại, Việt Nam đã tiến hành thử nghiệm việc ký kết thỏa thuận xác định giá trước (APAs) giữa cơ quan thuế và người nộp thuế (thí điểm đối với Samsung). Tuy nhiên, cho đến nay Chính phủ chưa công bố các bước tiếp theo. Các chiến lược truyền thông hoặc chiến lược cải thiện tinh thần thuế chưa hình thành rõ nét. Theo đề xuất của OECD (2019), cơ quan thuế các nước cần xem xét triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thúc đẩy tinh thần thuế, từ đó giảm thiểu áp lực quản lý thuế. Theo đó, cần thiết kế các chương trình giáo dục, hoặc tuyên truyền kiến thức thuế phù hợp, nhằm củng cố tinh thần thuế trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Động lực tinh thần thuế có thể  đưa vào trong các chương trình thiết kế này. Tiếp đến, cần xây dựng hồ sơ người nộp thuế, toàn diện và đầy đủ, giúp cung cấp thông tin hữu ích phân nhóm người nộp thuế và lựa chọn phương thức quản lý phù hợp tăng cường hiệu quả quản lý thuế. Cạnh đó, tăng cường ứng dụng công nghệ, nhằm tạo thuận lợi tối đa cho các phần việc tuân thủ  thuế của người nộp thuế trong thời đại công nghệ. Đồng thời, tích cực nghiên cứu, khám phá các động lực gia tăng niềm tin của người nộp thuế vào chính phủ.
 
Việc hiểu rõ về các yếu tố kinh tế xã hội và thể chế là quan trọng trong việc giải thích tinh thần thuế của người dân. Khi tinh thần thuế tốt, người nộp thuế có xu hướng nghĩ rằng, mọi hành vi gian lận đều bất hợp pháp, khi đó ý thức tuân thủ sẽ tăng cao. Hiện tại, do tinh thần thuế chưa được đề cập chính thức trong quá trình vận hành và thực thi chính sách thuế tại Việt Nam nên những hành động cần thiết mà Chính phủ và cơ quan thuế Việt Nam cần làm để cải thiện tinh thần thuế trong ngắn hạn là củng cố tính liên kết chặt chẽ giữa số thu và chi tiền thuế, đảm bảo tính công bằng trong huy động số thu và minh bạch trong việc sử dụng số thu thuế; xem xét triển khai các chương trình tuyên truyền, giáo dục người nộp thuế, nhằm gia tăng nhận thức về vai trò quan trọng của tinh thần thuế trong quản lý tuân thủ thuế.
ThS Đặng Thị Bạch Vân - Trường đại học Kinh tế TP HCM

Gửi bình luận


Mã bảo mật