Hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi Covid-19: nhiều quốc gia sử dụng biện pháp gia hạn nộp thuế

(TCT online) - Đề xuất giảm một số loại thuế, phí để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh bởi dịch Covid-19, tại dự thảo nghị quyết của Chính phủ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng đã nhận được nhiều ý kiến quan tâm. Để có  thêm thông tin nhiều chiều về nội dung này, Tạp chí Thuế có cuộc trao đổi với PGS, TS Lê Xuân Trường, Trưởng Khoa Thuế và Hải quan, Học viện Tài chính. 
 
Với mục tiêu tiếp tục hỗ trợ DN bị ảnh hưởng bởi Covid-19, dự thảo nghị quyết đã đề xuất một số giải pháp như giảm 50% thuế TNDN cho DN vừa và nhỏ trong năm 2020; giảm 50% thuế GTGT (hiện nay là 10%) cho hàng hoá, nguyên liệu; giảm 50% lệ phí trước bạ khi đăng ký ôtô sản xuất, hoặc lắp ráp trong nước trong năm 2020; áp dụng các chính sách ưu đãi thuế TTĐB đối với ngành ôtô nội… Ông có thể cho biết quan điểm của mình về những đề xuất này?
 
Không chỉ xây dựng nghị quyết này, ngay khi dịch Covid-19 mới tác động đến nền kinh tế, Chính phủ đã khẩn trương ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP và Nghị quyết số 42/NQ-CP, trong đó có chính sách gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất hỗ trợ DN và hộ kinh doanh gặp khó khăn. Tuy nhiên, tại dự thảo nghị quyết có  một số đề xuất mới về giảm thuế và lệ phí cho các lĩnh vực bị tác động bởi Covid-19, nhằm giúp các DN có thêm nguồn lực tài chính để vượt qua khó khăn, trong khi nguồn vốn bị ảnh hưởng bởi thị trường tiêu thụ giảm mạnh. Tuy nhiên, giảm thuế sẽ làm giảm thu NSNN. Đồng thời, việc giảm thuế, phí cần được xây dựng phù hợp trong tổng thể các chính sách tài chính hỗ trợ DN, tránh trùng lặp và cần trúng đối tượng để mang lại hiệu quả khi thực hiện. Xét trong dài hạn, việc áp dụng mức thuế suất thuế TNDN đối với DN nhỏ và vừa thấp hơn mức thuế suất phổ thông là phù hợp để góp phần tạo điều kiện hỗ trợ tài chính cho các DN nhỏ và vừa phát triển. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, mức độ tác động của đề xuất giảm thuế TNDN đối với DN vừa và nhỏ là không nhiều. Do thuế TNDN được tính trên lợi nhuận, nên đối với trường hợp bị ảnh hưởng lớn bởi dịch Covid-19, thì không những không có lợi nhuận, mà thậm chí DN còn kinh doanh thua lỗ, nên việc giảm thuế TNDN không có nhiều ý nghĩa. Còn đối với những DN không chịu ảnh hưởng nhiều, thậm chí còn gia tăng lợi nhuận khi xảy ra Covid-19, như một số ngành dịch vụ kỹ thuật số và kinh doanh trên nền tảng kỹ thuật số, thì việc giảm thuế TNDN là không thật sự cần thiết. 
 
Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, mặc dù xã hội loài người đã trải qua rất nhiều dịch bệnh, song Covid-19 lại diễn biến và tác động sâu rộng nhất từ trước tới nay. Để tìm ra giải pháp hỗ trợ DN trong những trường hợp nền kinh tế bị tác động mạnh như thế này, kinh nghiệm quốc tế có những ứng xử như thế nào, thưa ông? 
 
Theo quan sát của tôi, trong giai đoạn này, để hỗ trợ DN, chính sách ưu tiên của hầu hết các chính phủ là chi ngân sách để giúp DN, người dân vượt qua khó khăn. Đồng thời, thực hiện các chính sách tín dụng, đưa dòng vốn vào nền kinh tế, khôi phục sản xuất kinh doanh. Chính sách thuế hỗ trợ DN cũng được nhiều quốc gia sử dụng, nhưng biện pháp chủ yếu không phải là miễn thuế, mà là gia hạn nộp thuế.
 
 
Vậy dựa trên những thông lệ quốc tế và bối cảnh cụ thể của Việt Nam, ông có kiến nghị gì với Chính phủ trong xây dựng chính sách thuế để hỗ trợ DN, nhất là giai đoạn sau dịch bệnh?
 
Trước khi nói về chính sách thuế, cần trao đổi một quan điểm chung nhất về cách thức ứng phó của Chính phủ trong bối cảnh tác động của Covid-19. Tôi cho rằng, khi có những tình huống đặc biệt như thế này, rất cần vai trò điều tiết của Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước không nên bao cấp tràn lan, làm thay những việc vốn dĩ thị trường làm hiệu quả hơn, mà chỉ nên tập trung vào những lĩnh vực mà thị trường không thể, hoặc điều tiết không có hiệu quả. Thực tế cho thấy, Covid-19 đã làm thay đổi rất nhiều đến môi trường và cách thức làm việc, tạo ra cơ hội cho sự phát triển một số ngành nghề, công việc và lĩnh vực mới. Đồng thời, khai tử một số ngành nghề, công việc cũ và buộc hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh phải thay đổi tư duy và cách thức quản lý theo hướng ứng dụng kỹ thuật số nhiều hơn. Theo đó, những DN không nhận thức và thay đổi cho phù hợp với các tác động này, ắt sẽ bị đào thải. 
 
Điều này gợi ý một quan điểm chung về hỗ trợ của Nhà nước là, hãy để thị trường tự sắp xếp, cấu trúc lại các lĩnh vực kinh doanh và sự tồn tại của DN. Nhà nước chỉ hỗ trợ những lĩnh vực có liên quan thiết yếu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, an ninh năng lượng, an ninh lương thực… và các DN có tiềm năng phát triển nhưng tạm thời đang ở thế yếu. Việc hỗ trợ của Nhà nước cũng không nhất thiết tập trung nhiều vào ưu đãi, miễn, giảm thuế, mà cần nỗ lực tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi. Trong đó, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính để tiếp cận đất đai, vốn, thị trường và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động xuất nhập khẩu.
 
Xin cảm ơn ông!
Minh Huệ (thực hiện)

Gửi bình luận


Mã bảo mật