Kiến nghị hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế TNDN

 

(TCT Online) - Nhằm đánh giá một cách toàn diện về thực trạng hệ thống chính sách thuế liên quan đến ưu đãi thuế TNDN của Việt Nam, từ đó nghiên cứu, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế TNDN, chính sách quản lý thuế đối với thuế TNDN, Tổng cục Thuế thực hiện đề án “Đánh giá thực trạng ưu đãi thuế TNDN”. Tạp chí Thuế có cuộc trao đổi với Phó Vụ trưởng, Phó Ban cải cách và hiện đại hoá Lê Thị Chinh. (ảnh dưới).

 

Bà có thể cho biết sự cần thiết của việc đánh giá thực trạng ưu đãi thuế TNDN vào thời điểm này?

Chính sách ưu đãi thuế TNDN được Chính phủ chủ trương áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển kinh tế -xã hội từ khi xây dựng Luật Thuế TNDN số 57-L/CTN ngày 10/05/1997 (thay thế Luật Thuế lợi tức ban hành năm 1990). Qua quá trình triển khai thực hiện, chính sách ưu đãi thuế TNDN đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế  nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế chung và tiến trình phát triển kinh tế đất nước. Việc sửa đổi, bổ sung quy định về ưu đãi thuế TNDN đã góp phần thu hút vốn đầu tư, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, chính sách ưu đãi thuế TNDN cũng bộc lộ những mặt hạn chế, trong đó có việc các nước phát triển đầu tư vốn vào Việt Nam thông qua việc chuyển các máy móc thiết bị dây chuyền đã lạc hậu, biến Việt Nam thành bãi rác thải công nghiệp.

Tại Nghị Quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017, Chính phủ đã đặt ra yêu cầu “phải tiến hành rà soát các chính sách ưu đãi, miễn, giảm thuế trong nhiệm vụ cơ cấu lại NSNN”. Bên cạnh đó, Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 cũng đề ra mục tiêu tổng quát về cải cách hệ thống chính sách thuế là “xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý”.

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, trước thách thức từ sự phát triển của nền kinh tế số, cũng như để đối phó lại với tình trạng xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển lợi nhuận, các nhà lãnh đạo nhóm các nền kinh tế lớn (G20), các nước OECD/G20 đã hợp tác, đề xuất một gói giải pháp BEPS Pakage (gồm 15 hành động) chống xói mòn cơ sở tính thuế và dịch chuyển lợi nhuận. Trong đó, hành động 5 chống lại các thông lệ về thuế gây hại có hiệu quả hơn sẽ tiếp cận một cách toàn diện để đánh giá chế độ ưu đãi về thuếChính vì vậy, việc triển khai thực hiện đề án “Đánh giá thực trạng ưu đãi thuế DNNN là cần thiết và đúng thời điểm.

Bà vừa đề cập đến những hạn chế trong chính sách thuế ưu đãi TNDN. Vậy nội dung này đã được đề án đề cập như thế nào?

Chính sách ưu đãi thuế TNDN hiện hành đang phát huy tốt vai trò là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc quy định thu hẹp hay mở rộng cơ sở ưu đãi thuế để bảo đảm sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền, ngành nghề, lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được thì chính sách ưu đãi thuế TNDN cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định như còn tồn tại những khoảng trống về chính sách ưu đãi thuế TNDN; thiếu đồng bộ giữa Luật Thuế TNDN và Luật Đầu tư cũng như không thống nhất giữa văn bản hướng dẫn Luật Thuế TNDN và các văn bản pháp luật chuyên ngành. 

Cùng với đó, chính sách ưu đãi chưa đạt được mục tiêu hỗ trợ các DN trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, quy định về ưu đãi thuế để ưu tiên phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ chưa phát huy tác dụng thúc đẩy phát triển năng lực sản xuất trong nước. Chính sách thuế TNDN của Việt Nam đang quy định nhiều mức ưu đãi làm cho việc quản lý thuế trở nên phức tạp. Ưu đãi đối với đầu tư mở rộng dẫn đến tình trạng các DN chỉ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh để đáp ứng các điều kiện được hưởng ưu đãi thuế. Ngoài ra, các chính sách ưu đãi được quy định tại các văn bản chuyên ngành, các văn bản hướng dẫn riêng lẻ dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng và thiếu nhất quán trong thực thi pháp luật.

Đấy là hạn chế về chính sách, còn công tác quản lý, tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi thuế TNDN có gì bất cập không, thưa bà?

Thực hiện các quy định về quản lý thuế theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai và tự nộp thuế, trong thời gian qua, ngành thuế đã xây dựng các bộ mẫu biểu báo cáo kê khai ban hành kèm theo các văn bản quy phạm pháp luật để người nộp thuế tự xác định và phản ánh các nội dung tính nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời cung cấp cho cơ quan thuế các dữ liệu cơ bản phục vụ công tác quản lý.

Từ năm 2014 đến nay, hồ sơ kê khai quyết toán thuế TNDN được lập theo năm tài chính của DN và được nộp đến cơ quan thuế 1 lần/năm, giảm thủ tục hành chính so với thời điểm trước đó phải kê khai tạm tính hàng quý. Ngoài ra theo quy định hiện hành, thủ tục thực hiện ưu đãi thuế TNDN là do DN tự xác định các điều kiện ưu đãi để tự kê khai, quyết toán thuế với cơ quan thuế, giúp đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tiết kiệm được thời gian, chi phí tuân thủ, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế.

Trong giai đoạn này, ngành thuế cũng triển khai các phần mềm ứng dụng hỗ trợ công tác kê khai của DN như phần mềm kê khai offline HTKK, ứng dụng khai online iHTKK, eTax và thông qua các đơn vị TVAN để hỗ trợ lập tờ khai thuế. Nhìn chung các quy định hiện hành về kê khai ưu đãi thuế TNDN tương đối rõ ràng, tạo thuận lợi cho các DN. DN thực hiện tương đối tốt việc khai quyết toán thuế TNDN do cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế đã được áp dụng trong một khoảng thời gian dài. Cơ quan thuế cũng đã hình thành các chức năng hỗ trợ và kiểm tra, thanh tra phù hợp với cơ chế quản lý thuế hiện đại này.

Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện vẫn còn những bất cập như việc hiểu và áp dụng ưu đãi thuế TNDN còn có sự không thống nhất, trình độ hiểu biết về chính sách, pháp luật của NNT còn chưa đồng đều, ý thức tuân thủ pháp luật thuế chưa cao, còn có trường hợp lợi dụng kẽ hở chính sách để trốn, tránh thuế. Ngoài ra, hệ thống mẫu biểu kê khai chưa phản ánh đầy đủ và cập nhật kịp thời các quy định của chính sách, công tác kiểm tra, thanh tra thuế đối với DN được hưởng ưu đãi còn gặp khó khăn, khối lượng công việc bị quá tải. Công tác quản lý thuế về ưu đãi thuế chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, ban ngành. 

Từ thực trạng này, đề án đã đề xuất giải pháp gì để nâng cao hiệu quả thực hiện của những chính sách ưu đãi thuế TNDN?

Từ những nội dung phân tích, nghiên cứu, đánh giá, đề án đã có những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách thuế TNDN đối với các hình thức ưu đãi từ thu nhập miễn thuế; thuế suất ưu đãi và thời gian miễn, giảm thuế; chuyển lỗ cũng như hoàn thiện công tác quản lý thuế về ưu đãi thuế TNDN. Cụ thể như bổ sung quy định tham chiếu trong các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN đến pháp luật chuyên ngành khác, chuyển đổi từ thu nhập miễn thuế sang giảm thuế, hoặc thay vì ưu đãi theo điều kiện địa bàn đối với địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, có thể xem xét đẩy mạnh ưu đãi theo ngành, lĩnh vực để phát huy thế mạnh kinh tế ngành của từng vùng. Trong dài hạn nên gộp địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thành một địa bàn được hưởng ưu đãi thống nhất với mức độ ưu đãi duy nhất. Mức độ ưu đãi này có thể ở mức vừa phải, không ưu đãi ở mức cao nhất như đối với địa bàn khu công nghệ cao hay khu kinh tế.

Xin cảm ơn bà!

Huệ Minh (thực hiện)

 

Gửi bình luận


Mã bảo mật