Chuyên gia Ngân hàng Thế giới đề xuất giải pháp sửa Nghị định 20

(TCT online) - Bên cạnh việc đã phát huy vai trò quan trọng trong quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết, hạn chế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thì Nghị định 20/2017/NĐ-CP (Nghị định 20) đã bộc lộ một số bất cập cần sửa đổi, bổ sung, nhất là quy định hạn chế lãi vay trong quản lý giao dịch liên kết. Đó là nhận định của ông Nguyễn Việt Anh, chuyên gia thuế cao cấp của Ngân hàng Thế giới.
 
Ông đánh giá thế nào về vai trò của Nghị định 20 trong công tác quản lý giao dịch liên kết?
 
Một thách thức rất lớn đối với Việt Nam là phải quản lý thuế hiệu quả đối với các DN đa quốc gia có hoạt động phức tạp. Hiện nay, tại Việt Nam có đến 12.000 DN nước ngoài hoạt động, đóng góp khoảng 18% GDP và chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động xuất nhập khẩu. Với việc Việt Nam hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, hoạt động thương mại trong nội bộ các tập đoàn cũng như các giao dịch tài chính xuyên biên giới giữa các bên liên kết đã trở nên rất phổ biến. Điều này đặt ra những thách thức trong công tác quản lý thuế của các tập đoàn và nảy sinh những rủi ro xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, số thuế tiềm năng đang mất đi do các hoạt động tránh thuế, lập kế hoạch thuế quá mức và chuyển giá là cực kỳ lớn. Bên cạnh đó, từ quan điểm xây dựng một môi trường cạnh tranh và hấp dẫn các nhà đầu tư thì tính ổn định và phù hợp với thực tiễn quốc tế, đặc biệt với các giao dịch xuyên biên giới là một nội dung quan trọng và cần thiết.
 
Theo hướng này, việc ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định 20 với các quy định rõ hơn về nghĩa vụ báo cáo đối với người nộp thuế có giao dịch liên kết và áp dụng quy định hạn chế lãi vay, sẽ củng cố các nội dung quan trọng của công tác quản lý giá chuyển nhượng. Đây là những nội dung phù hợp với thực tiễn quốc tế theo khuyến nghị trong khuôn khổ toàn diện thông qua chương trình Chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) mà Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 100 từ năm 2017.
 
Thời gian qua, cộng đồng DN phản ánh quy định hạn chế chi phí lãi vay theo Nghị định 20 đã gây khó cho hoạt động kinh doanh, nhất là việc huy động vốn cho các DN nội. Quan điểm của ông về việc này như thế nào?
 
Tại Thông báo số 407/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ giao Bộ Tài chính hoàn thiện báo cáo về việc xây dựng, ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 20/2017/NĐ-CP, tập trung vào các nội dung tại Khoản 3 Điều 8 về tỷ lệ khống chế chi phí lãi vay, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng Nghị định sửa đổi sẽ được ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, không phân biệt đối xử. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cần khẩn trương trình Chính phủ Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Thuế số 38/2019/QH14 về việc quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết của những DN có quan hệ liên kết theo đúng tiến độ được giao tại Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 26/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Chuyển lợi nhuận thông qua việc trả tiền lãi vay trên các khoản vay từ các bên liên kết là một lo ngại chủ yếu đối với các nền kinh tế trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Điều này phản ánh vấn đề sử dụng việc vay nợ giữa các bên liên kết nhằm chuyển lợi nhuận xuyên biên giới, đồng thời các nhà hoạch định chính sách cũng phải giải quyết vấn đề lãi vay quá mức trong việc tránh thuế hoàn toàn có tính chất nội địa. Trước khi ban hành Nghị định 20, Việt Nam chưa hề có một biện pháp hữu hiệu nào nhằm đối phó với hình thức chuyển lợi nhuận này.
 
Theo quan điểm của tôi, quy định hạn chế khấu trừ lãi vay ở mức 20% EBITDA (tổng lợi nhuận trước thuế cộng với chi phí lãi vay và khấu hao) là hợp lý.
 
Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp gặp khó khăn khi áp dụng quy định này. Đơn cử như các DN hoạt động theo hình thức tập đoàn, công ty mẹ con có phát sinh việc cho vay trong nội bộ tập đoàn thì quy định này là cứng nhắc vì chi phí lãi vay được tính trên cơ sở “gộp”. Hay đối với các DN khởi nghiệp và các dự án phát sinh lỗ trong những năm đầu nhưng tổng thể là có lợi nhuận có thể sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực, vì họ không được khấu trừ chi phí lãi vay trong giai đoạn phát sinh lỗ.
 
Vậy ông có gợi ý gì về giải pháp để khắc phục vấn đề này?
 
Để tháo gỡ những khó khăn này, Chính phủ, Bộ Tài chính có thể đưa ra quy định cho phép các DN được chuyển phần chi phí lãi vay chưa được khấu trừ vào các năm tiếp theo khi DN có khả năng khấu trừ, tương tự như quy định chuyển lỗ hiện nay. Chi phí lãi vay có thể tính trên cơ sở “thuần” để tạo điều kiện cho các DN cho vay trong nội bộ tập đoàn.
 
Đối với những DN thực sự vay nợ bên thứ ba nhiều, có thể cho phép áp dụng “tỷ lệ tập đoàn” thay cho hạn chế theo EBITDA ở mức 20%. Theo đó, nếu tập đoàn có DN thành viên trả chi phí lãi vay cho bên không liên kết vượt trên mức 20% của EBITDA của tập đoàn, DN đó có thể áp dụng tỷ lệ cao hơn để xác định khoản chi phí lãi vay được phép khấu trừ trong việc tính toán nghĩa vụ thuế. Cần nhấn mạnh các giải pháp này đều phù hợp với thông lệ quốc tế nên nếu những thay đổi này được áp dụng sẽ giúp giải quyết những vướng mắc hợp lý của DN, trong khi vẫn duy trì được bản chất của quy định hạn chế lãi vay trong việc giúp Việt Nam bảo vệ cơ sở thuế quan trọng của mình./.
 
Xin cảm ơn ông!
    Trung Kiên (thực hiện)

Tin mới

Các tin khác