Phân tích tác động của CPTPP đến thu NSNN

(TCT online) - Sau 10 năm là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cùng với việc tham gia và hoàn tất đàm phán 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương, Việt Nam tiếp tục ký kết và bắt đầu thực hiện Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương  (CPTPP). Theo đó, việc thực thi hiệp định thương mại này sẽ có nhiều tác động đến nguồn thu NSNN từ hàng hóa xuất, nhập khẩu. 
 
 
Nhận diện mức độ tác động 
 
Trong ngắn hạn, việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong CPTPP sẽ làm giảm thu NSNN, nhưng tác động không quá đột ngột và mức độ không đáng kể, do mới có hiệu lực từ ngày 14/1/2019, hơn nữa, trong CPTPP có đến 7/10 nước đã có FTA với Việt Nam, trừ Canada, Mexicô và Peru. Mặt khác, thời gian qua, cơ cấu thu NSNN của Việt Nam đã có sự dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng thu nội địa, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ tài nguyên khoáng sản (dầu thô) và hoạt động xuất nhập khẩu, Trong đó, nguồn thu từ hoạt động xuất/nhập khẩu giảm dần chủ yếu do thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam khi thực hiện các cam kết quốc tế. Cụ thể, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng nhanh, từ mức trung bình 67,7% giai đoạn 2011-2015 lên 80% giai đoạn 2016-2018 (năm 2018 đạt 81,67%); 10 tháng năm 2019 đạt khoảng 81,1%. Tỷ trọng thu từ dầu thô trong tổng thu NSNN giảm trung bình từ 13,4% giai đoạn 2011-2015 xuống còn 3-4% giai đoạn 2016-2018, trong 10 tháng năm 2019 đạt khoảng 3,8%. Tỷ trọng thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu so với tổng thu NSNN giảm trung bình từ 17,7% giai đoạn 2011-2015 xuống còn hơn 14% giai đoạn 2016-2018, trong 10 tháng đầu năm 2019 đạt khoảng 14,7%. Điều này cho thấy, cơ cấu thu NNSN đã hướng tới sự bền vững hơn, dựa vào nội lực của nền kinh tế trong nước nhiều hơn.
 
Trong dài hạn, việc thực hiện CPTPP sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư, qua đó tác động đến nguồn thu NSNN. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nếu xét riêng việc thực hiện cắt giảm thuế quan trong CPTPP thì tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tăng thêm khoảng 1,31% giai đoạn 2019-2035. Còn nếu đồng thời thực hiện cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ theo hiệp định, sẽ giúp tăng trưởng của Việt Nam tăng thêm 2,01% trong giai đoạn 2019-2035. 
 
Đối với thương mại, CPTPP có tác động thúc đẩy nhập khẩu, qua đó góp phần làm tăng thu ngân sách từ thuế GTGT và thuế TTĐB hàng nhập khẩu. Đối với thuế xuất khẩu, do Việt Nam giữ lại thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng có nguồn thu lớn như dầu thô và một số loại khoáng sản, nên tác động giảm thu từ thuế xuất khẩu không lớn. Bên cạnh đó, CPTPP cũng góp phần làm cho xuất khẩu trong nội khối các nước thành viên tăng lên, các DN trong và ngoài nước sẽ có nhiều cơ hội để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có thể đóng góp nhiều hơn vào ngân sách thông qua thuế TNDN.
 
Cam kết về thuế quan với các đối tác CPTPP cho thấy, Việt Nam đưa ra biểu thuế ưu đãi theo từng dòng thuế, theo mức độ và có lộ trình cắt giảm áp dụng chung cho tất cả các thành viên. Theo đó, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu cho 65,8% dòng thuế ngay khi hiệp định CPTPP có hiệu lực, bao gồm sản phẩm công nghiệp (máy móc, thiết bị; dệt may, giày dép; nhựa và sản phẩm nhựa; hóa chất và sản phẩm hóa chất; giấy, đồ gỗ, phân bón); sản phẩm nông nghiệp (sữa và sản phẩm sữa; gạo; phân bón); sản phẩm công nghệ thông tin (máy tính, thiết bị viễn thông, chất bán dẫn, các thiết bị khoa học dùng để sản xuất và thử nghiệm chất bán dẫn), đồng nghĩa nguồn thu thuế nhập khẩu từ các hàng hóa trên sẽ giảm ngay lập tức. Đối với các nhóm hàng hóa còn lại, lộ trình cắt giảm thuế dài hơn (86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi CPTPP có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi CPTPP có hiệu lực; các mặt hàng còn lại cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan).
 
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu các nhóm hàng thuộc diện cắt giảm thuế ngay khi CPTPP có hiệu lực đang có xu hướng tăng trưởng trong thời gian 3 năm gần đây (2016-2018). Theo đó, mặc dù số thu từ thuế nhập khẩu giảm dần (do thuế suất thuế nhập khẩu giảm) nhưng số thu thuế GTGT từ việc nhập khẩu các nhóm hàng đó lại tăng lên nhanh chóng. Để dự báo tác động làm giảm thu NSNN từ thuế nhập khẩu trong giai đoạn 5 năm tiếp theo (2019-2023), các chuyên gia đã tính theo phương pháp bình quân gia quyền cho từng nhóm hàng. Cụ thể, trong giai đoạn 2019-2023, số thuế nhập khẩu từ 7 nhóm hàng gồm máy móc, thiết bị; máy vi tính, linh kiện; sữa và sản phẩm từ sữa; giấy và sản phẩm từ giấy; gỗ, sản phẩm từ gỗ; hóa chất và sản phẩm hóa chất; phân bón các loại giảm trung bình khoảng 3,6 triệu USD, còn số thu thuế GTGT từ 7 nhóm hàng này tăng trung bình khoảng 21 triệu USD. Như vậy, có thể thấy số giảm thu từ thuế nhập khẩu chỉ bằng khoảng 7% số tăng thu có được từ thuế GTGT, đồng nghĩa số thuế giảm ngay là không quá lớn.
 
Khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
 
Xét về tổng thể, CPTPP có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, qua đó làm tăng số thu NSNN, tuy nhiên, mức tăng thu ngân sách cũng không quá lớn. Ở chiều ngược lại, vấn đề giảm thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã được lường trước khi thực hiện các cam kết quốc tế theo lộ trình, do đó vấn đề số thu ngân sách bị ảnh hưởng do CPTPP thực sự không quá quan ngại. Tuy nhiên, trong thời gian tới, Việt Nam vẫn cần chủ động mở rộng cơ sở thuế và thực hiện các biện pháp cơ cấu lại nguồn thu NSNN hướng tới có được nguồn thu tích cực và bền vững, đáp ứng các yêu cầu đặt ra về phát triển kinh tế - xã hội. 
 
Cụ thể, cần tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, bên cạnh đó cũng rà soát lại các chính sách có liên quan đến hoạt động xuất, nhập khẩu nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể trong nền kinh tế có thời gian thích ứng và phát triển trong thời kỳ hội nhập sâu rộng. Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó giúp DN phát triển, tạo lợi nhuận, gián tiếp đóng góp vào nguồn thu NSNN. Cùng lúc, tiếp tục đẩy nhanh tiến trình đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do nhằm đảm bảo hội nhập của Việt Nam một cách hiệu quả và bền vững hơn. Mặt khác, tập trung rà soát, bổ sung và điều chỉnh các quy định về thuế, nhằm đảm bảo các chính sách thuế đáp ứng được yêu cầu về hội nhập và thống nhất, hướng tới duy trì một hệ thống thuế minh bạch, rõ ràng và huy động được nguồn thu bền vững cho ngân sách trong giai đoạn sau này. Điều quan trọng là các giải pháp trên phải kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện nghiêm công tác quản lý thuế, kiểm soát và tăng cường thanh, kiểm tra chống thất thu, nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ cho NSNN.
Phạm Thị Thu Hồng

Gửi bình luận


Mã bảo mật