Hoàn thiện cơ sở pháp lý để xử lý tiền thuế nợ đã tồn tại nhiều năm

(TCT Online)- Đó là quan điểm của Đại biểu quốc hội Đỗ Văn Sinh- Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội xung quanh dự thảo nghị quyết xử lý tiền thuế nợ không còn  khả năng nộp ngân sách.

Thưa ông, dưới góc độ của cơ quan giám sát, ông đánh giá như thế nào về việc thực hiện các quy định của Quốc hội, Chính phủ đối với công tác quản lý và xoá nợ thuế trong thời gian qua?

Luật Quản lý thuế được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Từ đó đến nay, Luật Quản lý thuế đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm 2012, 2014 và năm 2016. Theo đó, Luật đã có quy định về quản lý nợ thuế từ việc xác định số tiền nợ, tính tiền chậm nộp, quy định các biện pháp đôn đốc nợ và cưỡng chế; quy định các trường hợp được gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế nợ; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt. Để thực hiện các quy định này, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành hoặc sửa đổi, bổ sung đều được Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành, hoặc ban hành kịp thời, tạo điều kiện để cơ quan thuế các cấp xây dựng các quy trình quản lý hiệu quả, giúp các cấp, ngành, người dân và DN nâng cao nhận thức về thực thi nghĩa vụ thuế. 

Với các biện pháp quản lý nợ được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tinh thần quyết liệt, ngành thuế đã thu được nhiều kết quả trong việc xử lý nợ đọng, góp phần huy động đầy đủ và kịp thời số thuế phải nộp vào NSNN, đảm bảo công bằng trong kinh doanh. Theo số liệu báo cáo của Bộ Tài chính, số thu hồi nợ đọng tăng dần qua các năm, bình quân từ 2015-2018 thu đạt 80% số nợ có khả năng thu hồi, tốc độ tăng bình quân 14,4%/năm. Tỷ trọng tổng nợ trên tổng thu nội địa đã giảm mạnh từ 12,2% năm 2014, đến năm 2017 giảm xuống ở mức 7,6% và tính đến cuối năm 2018 giảm xuống chỉ còn 6,7%.

Tuy vậy, theo thống kê của Bộ Tài chính, tình hình nợ đọng thuế vẫn còn cao, đến hết năm 2018 vẫn còn tới 81.618 tỷ đồng, trong đó tiền thuế nợ không có khả năng thu hồi là 41.387 tỷ đồng. Để giải quyết vấn đề này, bên cạnh Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Bộ Tài chính cho rằng vẫn cần phải có một nghị quyết xử lý tiền thuế nợ. Theo ông đề xuất này có hợp lý?

Nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành thuế là phải đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời vào NSNN các khoản thu đã được quy định. Tuy nhiên, thực tế kinh tế xã hội của nước ta những năm qua thường xuyên bị tác động bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả chủ quan và khách quan. Trong công tác quản lý thuế cũng vậy. Nhiều năm qua, mặc dù đã nỗ lực, song những tác động khách quan đã làm nợ thuế nhất là nợ không có khả năng thu hồi lên tới hơn 40.000 tỷ đồng, bao gồm cả tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp của các trường hợp người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; bị thiệt hại vật chất do thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh, hoả hoạn; phá sản, giải thể… Nếu đã là khách quan, thì cho dù không xử lý nợ, không xoá nợ thì khoản tiền thuế nợ đó cũng không thể thu hồi được. Trong khi, hàng ngày cơ quan thuế các cấp vẫn phải dành nguồn lực để quản lý. Thực trạng này đặt ra câu hỏi, tại sao lại không xử lý các khoản nợ không còn khả năng thu hồi này? Cũng có người cho rằng, Luật Quản lý thuế số 38 vừa được thông qua đã có những quy định về vấn đề này, nên không cần phải ban hành nghị quyết. Đấy chính là vấn đề cần hiểu đúng, bởi Luật Quản lý thuế số 38 chỉ quy định xử lý nợ thuế từ ngày 1/7/2020 trở đi, còn trước đó thì sẽ chịu sự điều chỉnh của luật hiện hành. Thực tế khi cần điều chỉnh các hiện tượng, hành vi xã hội thì phải có hành lang pháp lý để làm cơ sở cho các cơ quan, tổ chức thực hiện. Soi chiếu với Luật Quản lý thuế hiện hành cho thấy, Luật chưa có các quy định cụ thể xử lý nợ đối với người nộp thuế đã chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh và thực sự không còn khả năng nộp NSNN, nên số tiền thuế nợ, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp tồn tại dây dưa kéo dài. Do đó, việc người nộp thuế, DN nợ thuế không còn khả năng nộp ngân sách diễn ra từ trước khi Luật 38 có hiệu lực, cần phải có 1 hành lang pháp lý điều chỉnh. Tức là việc ban hành nghị quyết là cần thiết, nhằm tạo cơ chế pháp lý để xử lý dứt điểm tiền thuế nợ, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp tồn tại lâu năm. 

Những vấn đề ông quan tâm trong dự thảo nghị quyết này là gì?

Mục tiêu của nghị quyết xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng thu là tổ chức thực hiện kịp thời các chủ trương, định hướng của Quốc hội tại Nghị quyết số 55/2017/QH14 về yêu cầu tái cơ cấu lại ngân sách, tăng cường quản lý thu, trong đó có việc xử lý nợ. Đồng thời, khắc phục triệt để số nợ đọng không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước đã tồn tại nhiều năm, không để dây dưa kéo dài; tháo gỡ khó khăn cho những người nộp thuế có phát sinh nợ thuế do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng khác. 

Xử lý tiền thuế nợ trong đó có xoá nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp là vấn đề nhạy cảm, nên đối tượng được đề xuất, cũng như người ra quyết định phải hết sức cẩn trọng. Một mặt vừa không để chính sách quá thông thoáng dễ bị lợi dụng, mặt khác không vì thế mà chính sách thiếu bao quát những đối tượng cần thiết, cũng như đưa ra các điều kiện xử lý quá “bí”, làm khó cơ quan thực hiện. Chính vì vậy, tôi cho rằng cần phải rà soát thật kỹ để làm sao nghị quyết phải điều chỉnh tất cả những tồn tại trong xã hội hiện tại, tránh trường hợp khi đã ban hành rồi lại phải đề xuất biện pháp khác. 

Có một điểm tôi cho rằng cần xem xét kỹ là về đối tượng không còn hiện diện tại nơi đăng ký, hoặc không có địa chỉ liên lạc thuộc diện được đề xuất xử lý. Bởi, theo quy định hiện hành, họ vẫn có thể hoạt động ở địa điểm khác, thậm chí dưới danh nghĩa người khác. Do vậy, phải có quy định cụ thể về trách nhiệm của cá nhân khi cố tình không nộp thuế. 

Với nhóm đối tượng mà nghị quyết đề xuất chỉ cần thông báo đã đăng ký phá sản là được xoá tiền phạt chậm nộp, tiền châm nộp thì cũng không đúng với quy định tại Luật Phá sản. Bởi Luật Phá sản quy định, DN chỉ được coi là đã phá sản, giải thể khi có quyết định phán quyết của toà án. Từ khi DN đăng ký phá sản đến lúc có phán quyết là cả một quãng thời gian, nên  quy định này cũng cần được xem lại.

Thứ ba rất quan trọng đó là, hiện nay nghị quyết mới điều chỉnh vấn đề đối với tiền chậm nộp, phạt và vẫn khoanh nợ gốc. Vậy nợ gốc đó sau này sẽ được xử lý như thế nào, có cần thiết phải đưa vào trong nghị quyết hay không? Chính phủ phải rà soát kỹ việc này, trường hợp nếu chưa được quy định trong luật hiện hành thì phải được quy định ở nghị quyết.

Xin cảm ơn ông!

Thuý Nga (thực hiện)

 

Điều kiện để được khoanh nợ, xóa nợ tại Điều 5 của dự thảo nghị quyết:

- Có giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định của tòa án tuyên bố đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; có quyết định giải thể; có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

- Có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền người nộp thuế không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh và có văn bản đề nghị thu hồi hoặc có quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

- Có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng khác; có biên bản đánh giá giá trị vật chất thiệt hại do người nộp thuế lập và có xác nhận về giá trị thiệt hại của tổ chức kiểm toán độc lập hoặc cơ quan thẩm định giá hoặc cơ quan bảo hiểm; 

- Có văn bản xác nhận của đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước về việc người nộp thuế chưa được thanh toán và số tiền chưa thanh toán cho người nộp thuế; có hợp đồng kinh tế ký với đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước, đối với nhà thầu phụ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng và được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước trực tiếp thanh toán nhưng chưa được thanh toán và biên bản nghiệm NSNN hoặc hóa đơn cung ứng hàng hóa dịch vụ;

Trường hợp nếu phát hiện việc xóa nợ không đúng quy định hoặc người nộp thuế quay lại sản xuất kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thì phải nộp vào ngân sách khoản nợ đã được xóa (khoản 4 Điều 3 Nghị quyết).