Siết điều kiện cho vay lại vốn vay nước ngoài

(TCT online) - Từ 1/7/2018, Luật Quản lý nợ công 2017 có hiệu lực thi hành với các quy định chặt chẽ trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đảm bảo an toàn, bền vững nợ công. Ông Trương Hùng Long - Cục trưởng Cục Quản lý nợ công (Bộ Tài chính) chia sẻ cụ thể hơn về các quy định này.
 
Thưa ông, theo quy định của Luật Quản lý nợ công 2017 và các văn bản  hướng dẫn thì các tổ chức tín dụng không được phép cho vay lại vốn vay ưu đãi, ông có thể nói rõ hơn về điều này?
 
Trong Luật Quản lý nợ công 2009 có các hình thức cho vay, bao gồm cho vay đến dự án thông qua các ngân hàng là trung gian làm dịch vụ được cơ quan uỷ quyền; cho vay theo chương trình, tức là Nhà nước huy động về và cho các ngân hàng vay lại để ngân hàng cho dự án vay. Luật Quản lý nợ công 2009 đặt ra vấn đề cho vay chương trình, vì hầu hết vốn vay ODA được huy động với điều kiện dài, lãi suất thấp qua hệ thống ngân hàng cho các dự án được hưởng ưu đãi nhất định. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, các khoản vay đều tiến sát thị trường, nên ở chừng mực nào đó với các khoản vay lãi suất thả nổi, thì trong dài hạn không thể nói rằng ưu đãi là vĩnh viễn. Như vậy, khả năng Nhà nước lo cho toàn bộ nền kinh tế thông qua cung cấp vốn cho các tổ chức tín dụng sẽ khó khăn hơn. Cạnh đó, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng với thế giới, đồng nghĩa với việc cởi mở các khu vực dịch vụ tài chính, trong đó có ngân hàng. Do vậy, nếu tiếp tục cung cấp nguồn vốn từ phía Nhà nước cho các ngân hàng thương mại trong nước để họ cho vay lại theo thị trường, sẽ tạo sự bất bình đẳng và tạo xung đột với các quy định. 
 
Điều này có nghĩa, các điều kiện cho vay lại bằng nguồn vốn vay nước ngoài trong giai đoạn hiện nay sẽ được siết chặt hơn, thưa ông?
 
Trong Luật Quản lý nợ công 2009 và Nghị định 78/2010/NĐ-CP cũng có quy định điều kiện cho vay lại. Trước đây, Nhà nước cho các tổ chức, các dự án vay lại thông qua ngân hàng, chủ yếu thực hiện theo hình thức Nhà nước chịu rủi ro. Thống kê cho thấy, từ 2005-2015, Việt Nam đã huy động được 45 tỷ USD, trong đó cho vay lại 15 tỷ USD. Trong số cho vay lại này, gần như tuyệt đại đa số là Nhà nước chịu rủi ro, trừ một số chương trình không lớn. Đã thế, Nhà nước cho vay lại bằng đồng ngoại tệ, còn các tổ chức, cá nhân cơ bản có thể trả nợ bằng tiền VNĐ. Như thế, Nhà nước chịu toàn bộ rủi ro về tín dụng, các ngân hàng làm nhiệm vụ uỷ quyền chỉ mỗi việc giải ngân, thu nợ và được hưởng phí.
 
 
Để khắc phục những bất cập này, Luật Quản lý nợ công 2017 đã đưa ra các quy định siết chặt các điều kiện cho vay lại. Theo đó, Nhà nước chỉ chịu rủi ro đối với các đối tượng, chương trình cần ưu tiên và các khoản vay thông qua hệ thống ngân hàng chính sách. Còn với các ngân hàng thương mại (NHTM), việc cho vay lại sẽ phải thực hiện theo nguyên tắc thị trường, tức là ngân hàngcũng phải chịu rủi ro. Đương nhiên, các điều kiện liên quan đến tín dụng từ đánh giá, thẩm định dự án ban đầu, đến giải ngân, thu nợ, kiểm soát tài sản đảm bảo, xử lý rủi ro dự án, sẽ do NHTM trực tiếp giải ngân khoản vay đó thực hiện. Nguyên tắc này sẽ từng bước tiến sát hơn với các nguyên tắc tín dụng để đến lúc nào đó khi chúng ta không còn khoản vay ưu đãi nữa, sẽ chuyển hoàn toàn sang khoản vay thị trường. Khi đó, ngân hàng ứng xử với các dự án này cũng như các nguyên tắc tín dụng bình thường.
 
Một quy định nữa được Luật Quản lý nợ công 2017 đề cập đó là, cho vay bằng đồng tiền nào, thì trả nợ bằng đồng tiền đó; trường hợp trả bằng VNĐ, thì phải theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Điều này sẽ đảm bảo cân đối hài hoà và trách nhiệm đến cùng của người sử dụng vốn, và đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng vốn với nhau.
 
Ông có lưu ý gì với những đơn vị được cho vay lại?
 
Chúngta đều biết đối tượng cho vay lại bao gồm chính quyền địa phương; đơn vị sự nghiệp công tự chủ 100% hoặc 1 phần; các chủ dự án, DN. Có một số vấn đề mà các đơn vị được cho vay lại phải lưu ý. Trước hết là tính chất của khoản vay và cơ chế kiểm soát của Nhà nước. Tính chất của khoản cho vay lại mang tính thương mại nhiều hơn, sát thị trường hơn, do vậy chủ dự án hay cơ quan đi vay phải hết sức thận trọng, phải tính được khả năng hoàn trả, hiệu quả của dự án, và các rủi ro phải chịu. Thứ hai, luật đã quy định rõ ngay từ khâu đề xuất danh mục dự án, các bộ, ngành, địa phương đã phải tính toán được các yếu tố tài chính để gửi Bộ Tài chính. Do vậy, các địa phương khi làm kế hoạch NSNN năm 2019 phải lưu ý đến việc xây dựng kế hoạch giải ngân khoản vay nước ngoài, vì gắn liền với bội chi địa phương. Thứ ba, ngoài việc lưu ý đến từng dự án liên quan đến từng nhóm đối tượng, NSNN, đơn vị sự nghiệp, thì cũng cần nắm rõ dự án phải chịu sự điều chỉnh của Luật NSNN, Luật Đầu tư công từ kế hoạch trung hạn, hàng năm, bội chi ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, hạn mức nợ.
 
Xin cảm ơn ông!
Thúy Nga (thực hiện)

Gửi bình luận


Mã bảo mật