Cục Thuế TP HCM đối thoại với hơn 350 DN

(TCT online) - Ngày 29/10, Cục Thuế TP HCM phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC) tổ chức Hội nghi đối thoại với hơn 350 DN trên địa bàn nhằm phổ biến những chính sách thuế mới và tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn cho DN. 
 
 
Tại hội nghị, ông Phạm Trí Dũng, Trưởng phòng Tuyên truyền Hỗ trợ (Cục Thuế TP HCM) giới thiệu những nội dung liên quan đến Hóa đơn điện tử (HĐĐT), Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Nghị định 68/2020/NĐ-CP, đặc biệt là những chính sách thuế mới theo Nghị định 123, 125, 126 của Chính phủ vừa được ban hành ngày 19/10/2020. Theo đó, về thời gian bắt buộc sử dụng HĐĐT, ông Dũng nêu rõ, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 quy định về việc áp dụng hóa đơn, chứng từ điện tử chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2022. Trong thời gian này, cơ quan thuế khuyến khích các tổ chức, cá nhân nên áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử trước thời hạn trên. 
 
Bên cạnh đó, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP có nêu, cơ sở kinh doanh và cơ quan thuế có thời hạn 24 tháng (từ ngày 1/11/2018 đến ngày 1/11/2020) để chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin để người nộp thuế có thể đăng ký, sử dụng, tra cứu và chuyển dữ liệu lập HĐĐT cho cơ quan thuế theo quy định. Trong khi cơ quan thuế chưa thông báo các DN, tổ chức kinh doanh chuyển đổi để sử dụng HĐĐT theo Nghị định số 119/2018/NĐ-CP thì vẫn áp dụng hóa đơn theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP; Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành. 
 
 
Với thắc mắc của Công ty TNHH TM Hùng Việt (quận 8) về việc kế toán đã xuất HĐĐT nhưng không liệt kê đầy đủ các mặt hàng mà ghi lập bảng kê kèm theo có sai quy định không? Giải đáp vấn đề này, ông Trần Minh Quốc, Phó Trưởng phòng TTHT cho biết, về nguyên tắc HĐĐT là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, không bị giới hạn về số dòng trên hóa đơn. Khi cung cấp hàng hóa dịch vụ, công ty lập HĐĐT cho khách hàng thì phải lập đầy đủ danh mục hàng hóa dịch vụ bán ra đảm bảo nguyên tắc thông tin chứa trong HĐĐT có thể truy cập, sử dụng được dưới định dạng hoàn chỉnh khi cần thiết theo quy định tại Khoản 3, Điều 3 Thông tư số 32/2011/TT-BTC (không lập bảng kê kèm HĐĐT). Với trường hợp trên thì công ty lập biên bản điều chỉnh với người mua và lập hóa đơn điều chỉnh theo quy định tại Điều 9, Thông tư số 32/2011/TT-BTC. Việc xử lý vi phạm phải căn cứ vào từng hành vi vi phạm hành chính cụ thể theo các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ.  Đồng thời, công ty nên tham khảo các Nghị định 109, Nghị định 49 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn.
 
Liên quan đến nội dung chi phí lãi vay, chỉ tiêu EBITDA (tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao trong kỳ) theo Nghị định 68/2020/NĐ-CP khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Nội dung này được Phòng TTHT giải thích,  theo Điểm a, Khoản 3, Điều 8 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP (được sửa đổi theo Điều 1 Nghị định số 68/2020/NĐ-CP ngày 24/6/2020), thì tổng chi phí lãi vay (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) phát sinh trong kỳ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN không vượt quá 30% của EBITDA. 
 
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 68/2020/NĐ-CP đối với kỳ tính thuế TNDN năm 2017 - 2018, nếu thuộc đối tượng áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP thì DN được áp dụng để xác định chi phí lãi vay, số thuế TNDN phải nộp tương ứng và khai bổ sung hồ sơ khai quyết toán thuế TNDN năm 2017 - 2018 (nếu có) và nộp cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước ngày 1/1/2021. Trường hợp sau khi khai bổ sung, số thuế TNDN giảm thì sẽ được giảm số tiền chậm nộp tương ứng (nếu có). Trường hợp chỉ tiêu EBITDA phát sinh âm (<0), cơ quan thuế sẽ báo cáo cơ quan cấp trên việc xác định chi phí lãi vay (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) từ kỳ tính thuế TNDN năm 2017 theo quy định tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP.
Đức Mỹ

Gửi bình luận


Mã bảo mật