“Tiền nợ thuế không còn khả năng thu hồi đáng lẽ phải xử lý sớm hơn”

(TCT Online) - Đó là quan điểm của TS Vũ Tiến Lộc- đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam khi trao đổi với phóng viên Tạp chí Thuế xung quanh dự thảo nghị quyết xử lý tiền thuế nợ đối với  người nộp thuế không còn khả năng nộp, dự kiến sẽ trình Quốc hội vào Kỳ họp tháng 10 tới.

Do nhiều nguyên nhân khách quan từ hoạt động sản xuất kinh doanh, mà nhiều DN đang phải đối diện với những khoản nợ thuế bất khả kháng. Để giải quyết tình trạng này, cùng với việc luật hoá các trường hợp xoá nợ thuế tại Luật Quản lý thuế, Bộ Tài chính đang dự thảo nghị quyết xử lý tiền thuế nợ đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp và dự kiến trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp tới.  Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của nghị quyết này?

Trong một thời gian dài, đã có không ít DN, người nộp thuế phát triển “nóng”, dẫn đến rủi ro, khiến nợ thuế kéo dài, thậm chí không có khả năng trả. Bên cạnh đó, bối cảnh phát triển kinh tế xã hội trong một số năm qua của nước ta cũng gặp nhiều khó khăn tác động đến DN và khả năng nộp thuế của họ. Theo thống kê của Bộ Tài chính, tổng số tiền thuế nợ không có khả năng thu hồi tính đến 31/12/2018 lên tới 41.378 tỷ đồng. Điều đáng nói, trong số nợ đọng nêu trên, thì có đến gần 760.000 người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, tự phá sản, giải thể… Nợ không có khả năng thu hồi, nhưng hàng ngày cơ quan thuế phải bỏ thời gian và nhân lực để theo dõi, trong khi tiền phạt chậm nộp 0,03%/ngày vẫn được tính, mỗi ngày gánh nặng này lại thêm một chút trên chính người nộp thuế và cơ quan quản lý nhà nước. Những món nợ tiền thuế không còn khả năng thu hồi giờ chỉ còn tồn tại trên sổ sách, rất khó truy thu. Từ thực tế này, tôi cho rằng đáng lẽ đề xuất xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng thu hồi cần phải xem xét từ rất lâu rồi.

Do đó, có thể khẳng định, việc xây dựng nghị quyết xử lý tiền nợ thuế không có khả năng thu hồi là hết sức cần thiết, có thể tháo gỡ khăn cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, việc đề xuất xử lý tiền thuế nợ sẽ hỗ trợ, giải quyết kịp thời khó khăn cho người nộp thuế khi gặp thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng.

Nếu được thông qua vào kỳ họp Quốc hội tới, dự thảo nghị quyết sẽ là bước khởi đầu tốt để bắt đầu một giai đoạn mới, giảm áp lực cho DN, người nộp thuế và cả cơ quan thuế.

Tại dự thảo nghị quyết xử lý nợ thuế, cơ quan soạn thảo đã khoanh vùng 7 đối tượng không có khả năng thu hồi. Dưới góc nhìn của DN, theo ông việc khoanh vùng như vậy đã đúng, trúng và đủ chưa?

Vấn đề quan trọng đặt ra khi thảo luận chính là đề xuất phải đúng đối tượng, nếu không đúng chính sách rất dễ bị lợi dụng. Do vậy, xem kỹ những trường hợp được Bộ Tài chính đề nghị xóa nợ thuế tôi thấy Ban soạn thảo đã rà soát cẩn trọng, cân nhắc nhiều khía cạnh.

Nợ thuế có nhiều đối tượng khác nhau, do đó cần phải phân loại, đánh giá cụ thể về vấn đề này. Đối với 7 đối tượng cụ thể được đề xuất xử lý nợ thuế tại dự thảo (người đã chết, bị toà án tuyên bố là chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; có quyết định giải thể; người nộp thuế đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan yêu cầu; không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đã đăng ký; bị cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cấp có thẩm quyền hoặc bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bị thiệt hại vật chất do gặp thiên tai, thảm hoạ, tai nạn bất ngờ; cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán trực tiếp bằng nguồn vốn NSNN) đã phản ánh đúng những trường hợp cần thiết.

Để đảm bảo đúng đối tượng và công bằng giữa các DN, dự thảo nghị quyết có những quy định cụ thể về điều kiện được khoanh nợ, xoá nợ. Theo ông, ngoài những nội dung đã đề cập, khi được Quốc hội thông qua, cơ quan thực hiện cần lưu ý thêm những vấn đề gì?

Nếu chỉ đơn thuần xóa món nợ thuế của những DN đã "chết" thực sự, nhìn chung sẽ không có bất bình đẳng giữa các DN đang hoạt động. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu thực tế là, xóa nợ thuế phải bảo đảm minh bạch, công bằng, tránh xảy ra hiện tượng chung chia giữa người nộp thuế với người quản lý, dự thảo đã quy định rõ ràng điều kiện để được khoanh nợ, xoá nợ như: phải có giấy chứng tử hoặc giấy báo tử, quyết định của toà án tuyên bố một người đã chết, mất tích; xác nhận của cơ quan có thẩm quyền  về người nộp thuế không còn hoạt động sản xuất kinh doanh; xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về xảy ra thiên tai, hoả hoạn. Điểm đáng ghi nhận tại dự thảo là, đã ràng buộc trách nhiệm của người nộp thuế được xoá nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, nếu bị phát hiện không đúng, hoặc quay lại sản xuất, kinh doanh thì vẫn phải nộp  khoản nợ đã xoá. Hơn nữa, để đảm bảo chặt chẽ trong xử lý nợ đọng thuế, dự thảo nghị quyết còn quy định rõ trách nhiệm không chỉ của ngành thuế mà còn của nhiều cơ quan chức năng khác như các uỷ ban của Quốc hội, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Chính phủ, Bộ Tài chính, UBND các cấp, chủ tịch UBND cấp tỉnh, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, công an nơi người nộp thuế có trụ sở kinh doanh, toà án nơi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản…

Có thể nhận thấy trong 3 nhóm nợ thuế hiện nay gồm nợ không có khả năng trả; nợ gián đoạn, nhất thời vẫn có khả năng thanh toán và nợ do cố tình trì hoãn, thì nhóm thứ nhất đã nằm trong nhóm đối tượng được đề xuất xử lý nợ. Riêng với nhóm thứ hai gặp khó khăn về nghĩa vụ thuế nhưng chỉ mang tính nhất thời, thì cần phải có sự hỗ trợ của ngành thuế và các cơ quan liên quan từ trung ương đến địa phương trong việc giải quyết. Riêng nhóm thứ ba, cần phải có biện pháp xử lý, buộc phải trả khoản phạt chậm nộp, bởi không phải họ không có khả năng thanh toán nghĩa vụ thuế, mà do cố tình trì hoãn. Trường hợp này, phải chịu trách nhiệm cao hơn không chỉ là xử lý hành chính, thậm chí có thể xử lý hình sự.

 Xin cảm ơn ông!

Thuý Nga (thực hiện)